Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

BÊN SÔNG DRĂK BLA

Nếu như chị Quế bị giữ lại ở Kon Tum bởi một ánh trăng đêm trước và chổ ngồi uống cà phê sáng nay trong sân khách sạn nhìn ra một chiếc thuyền độc mộc bên những nhánh trúc lơ thơ.

 

Thì tôi khi bước ra cổng khách sạn nhìn chung quanh, có ngay cảm giác hôm qua mình đã quyết định đúng. Tối qua chẳng nhìn thấy gì hết, chỉ biết là nơi mình ở giữa một làng người Bahnar tên là Kon Klor, đã quyết định ở lại, sáng ra nhìn chung quanh thấy mình đang đứng tại một nơi là phố ở giữa làng, nơi mà văn hóa người Việt và người Bahnar đan xen, hiện đại và truyền thống lẫn vào nhau, tôi biết rất ít về dân tộc học, nên không cầu toàn, chỉ thấy là cái làng - phố này hay quá. Xen lẫn nhà tường người Kinh, là nhà sàn người Bahnar, có nhà sàn cầu thang bằng gỗ đúng kiểu, nhưng một nhà sàn khác thì cầu thang bằng…bê tông.





Đối diện nơi tôi ở là một khách sạn xây kiểu hiện đại rồi trên mái kết thêm vào một ít rơm.



Trên đường những phụ nữ Bahnar đi chợ sớm về, quần áo như người Kinh nhưng chiếc khăn quấn quanh người là khăn dệt tay truyền thống.



Theo ngôn ngữ Bahnar thì Konlàng, Tumhồ, với lời giải nghĩa tên gọi của một ngôi làng cổ gần một hồ nước lớn cạnh dòng sông Đăk Bla. Chỗ tôi ở bước ra 100m là đến sông Đăk Bla, nghĩa là tôi đang ở gần nơi hình thành Kon Tum từ xa xưa. Khi biết đi sâu vào thêm 5-7 km nữa là làng KonK'Tu thuộc xã Đăk Rơ Wa được xem là làng cổ nhất trên địa bàn thành phố Kon Tum hiện nay, tôi như lên mây, kiểu này đành xin khất Pleiku xinh đẹp một lần khác, ở lại với Kon Tum thôi.
Mặt trời vừa lên cả nhóm kéo nhau ra cầu treo Kon Klor.



Chỉ cách khách sạn khoảng 5 phút đi bộ, chiếc cầu treo công nghiệp to đẹp nhất khu vực Tây Nguyên nối liền hai bờ của dòng sông Đăk Bla, huyền thoại những dòng sông chảy ngược về Tây của đất Tây Nguyên, chảy từ Quảng Ngãi về đến thuỷ điện Yaly, nối thành phố Kon Tum với vùng kinh tế mới.







Cầu có chiều dài 292m, rộng 4,5m, xây dựng vào ngày 3/2/1993 và hoàn thành ngày 1/5/1994.


(Ảnh tư liệu)

Chiếc cầu được đưa vào sử dụng thì cũng chấm dứt luôn những chuyến đò ngang bằng xuồng độc mộc đã từng bao năm qua lại đôi bờ.



Từ cầu treo nhìn ngược lại thấp thoáng nóc một nhà rông.



Có lẽ có duyên với Tây Nguyên, khách sạn Xanh nơi chúng tôi ở gần nhà rông Kon Klor, nhà rông lớn và đẹp nhất Tây Nguyên (từng bị cháy mất năm 2010, đã xây dựng lại sau đó 1 năm). Nhà rông Kon Klor được thiết kế theo kiểu truyền thống với chất liệu hoàn toàn bằng gỗ, tranh, tre, nứa, lá với những hoa văn, họa tiết rất công phu và tỉ mỉ, có chiều dài mặt nền 17m, chiều rộng 6m và chiều cao của nóc là 22m. Toàn bộ phần trụ (14 cột gỗ tròn đường kính 5-60cm) và mặt sàn đều được làm bằng gỗ xoay - một loại gỗ quí hiếm với gần 80 m3, mái lợp bằng 3.000 tấm tranh (1 tấm tranh bằng 1m2) và hàng ngàn cây rui, tổng cộng hơn 3 ngàn ngày công.





Dông dài một chút, nhớ lại bài lúc còn đi học thì nhà rông là biểu tượng niềm tự hào đối với tộc người Bahnar vì ở đó hội tụ sức mạnh cộng đồng, tín ngưỡng và nghệ thuật dân gian. Điều rất đặc trưng của người dân Bahnar trong xây dựng nhà rông là họ luôn làm việc tập thể, công việc hết thảy phải chia đều dưới sự sắp xếp của già làng, tuy nhiên công việc lao động sản xuất của gia đình vẫn phải đảm bảo không bị ảnh hưởng, họ tập trung làm hai ngày thì một ngày nghỉ để lo việc nương rẫy. Việc làm khung, lên đòn tay, dàn giáo, rui, mè, lợp tranh, hầu hết là được buộc bằng dây mây mà rất  vững chắc, tôi cố tình tìm nhưng chẳng thấy một cái đinh nào.





Trở lại với buổi sáng hôm nay, bắt đầu một ngày rong ruỗi khác, ăn sáng cũng phở khô,nhìn cô bé con này ăn thì biết là món ngon thế nào.



Lên đường đi Măng Đen, cách KonTum 60km, tò mò vì muốn biết “Đà Lạt thứ 2”. Đi đuờng 24 dọc theo con sông Đăk Bla.



Có những đoạn đi ngang qua các làng Bahnar của xã Đăktơre, huyện Kon Rẫy, đường đẹp, cảnh đẹp nhưng xe chạy chậm vì là sáng Chủ nhật, trẻ em từ các nhà thờ đổ ra, đi bộ, hoặc đi xe đạp, chu choa, xe đạp đường dốc, có khi chở 3 mà bọn nhóc phóng veo veo. 







Cậu lái xe người Gia Lai sợ xanh mặt vì cứ phải thắng gấp tránh bọn nhỏ, chưa kể một cú hú hồn vì chiếc xe gắn máy chở hai chàng choai choai người dân tộc phóng một cái vèo ngay đoạn cua  gấp thiếu điều muốn va vào đầu xe hơi mình, mấy bà già vừa niệm Phật vừa trấn an lái xe “Đi từ từ thôi con, để ý nhường tụi nó nghe”.
Chuyển sang đường đèo, Măng Đen nằm giữa đèo Măng Đen và đèo Violăk, tên gọi xuất phát từ tên T’măng Deeng của người Mơ Nâm, có nghĩa là vùng đất bằng phẳng và rộng lớn.



Đường khá dễ đi, chỉ quanh co uốn lượn chứ không có những dốc cùi chỏ như đường đèo Tây Bắc, Đông Bắc, các rẫy cà phê bạt ngàn trên đồi.



 

Con sông Đăk Bla đi vào núi đôi lúc nhìn xa như một sợi chỉ mỏng.



Những đoạn sông gần đường với những chiếc cầu treo vắt ngang qua, mình nhìn thấy cũng mừng cho đồng bào từ trong núi có chiếc cầu thông thương ra với bên ngoài.



Bắt đầu lên đỉnh Măng Đen với những rừng thông bạt ngàn, ngồi trong xe chụp ra hình xấu ơi là xấu, muợn một tấm hình của báo ảnhViệt Nam bỏ lên đây kẻo người Kon Plông buồn mình giới thiệu Măng Đen xấu quá.





Nằm ở độ cao 1.200m, nơi đây quả là “Đà Lạt thứ 2”, khí hậu ôn đới mát mẻ.





Ghé ăn trưa tại một quán mà sau khi hỏi chuyện hóa ra chủ quán đồng hương Sài Gòn, trên đường chính có một trạm nghỉ chân kiến trúc hơi giống chợ Sài Gòn.



Măng Đen đang bắt đầu khai thác du lịch, có vẻ có tiềm năng, nếu không người Sài Gòn đã không lặn lội lên đây. Bắt đầu rời khỏi con đuờng chính với vô số các biệt thự kiểu Pháp đã xây xong hay mới xong phần thô lẫn khuất giữa rừng thông.



Chỉ có 1 bản hướng dẫn ở đầu con đường quẹo vào rừng, mà sau đó có khá nhiều ngả rẽ, hỏi mãi rồi cũng đến được một cái hồ tuyệt đẹp (hình như là hồ Toong Đam).







Tiếp đến một cây cầu dây văng mới tinh, không hiểu sao lại gọi là cầu dây văng lệch nhịp, xuống dưới dạ cầu thấy còn ngổn ngang, cũng ngại ngại không dám đi qua vì không có một bản chỉ dẫn nào hết.





Lại quay ra đường chính hỏi đường vào thác Pasih, hóa ra phải đi qua cầu dây văng vào sâu bên trong vài km nữa, quay xe trở lại, không bỏ công, đi sâu vào rừng trời mát lạnh, nghe tiếng thác đổ, nhưng phải đi bộ xuống khá sâu, tuy nhiên có bậc thang bằng đá nên đi xuống cũng không khó lắm, thác Pasih hiện ra giữa rừng như một dãi lụa mềm tuyệt đẹp.







Đường điện đã dẫn vào đến chân thác, các nhà nghỉ chân trong rừng cũng đang được xây dựng, khu du lịch sinh thái đang hiện rõ nét.





Trên đường về chộp được một tấm ảnh hai cậu bé người dân tộc đang tắm với ống nước suối từ trên núi đổ về.



Cả một ngày đi bên cạnh dòng sông Đăk Bla, trở về phòng ở khách sạn Xanh, cũng có sông Đăk Bla trong tấm ảnh treo trên tường.



Như vậy những ngày ở Kon Tum, đi ra ngoài hay trở về phòng tôi đều ở bên cạnh sông Đăk Bla .


(Ảnh tư liệu)
Đọc tiếp ...

NGÃ 3 BIÊN VÀ MỘT ÁNH TRĂNG Ở KONTUM

Một đêm nữa ngủ tại Pleiku, phố núi cao, phố núi đầy sương thật nhưng có vẻ chẳng còn trời thấp thật buồn vì quán cà phê cạnh khách sạn karaoke cũng phải đến nửa đêm mới ngưng tiếng hát. Buổi sáng thứ hai ở Pleiku lại khá hấp dẫn với món phở khô Gia Lai, các bà du khách trùm sò này đã tính rất kỹ, không muốn bỏ bữa điểm tâm ở khách sạn nhưng lại cũng muốn thưởng thức món phở khô ngoài phố vì Bếp ấm Bếp vui Thanh Quế đã nếm phở khô của khách sạn trong buổi điểm tâm sáng qua và cho biết không xuất sắc lắm. Do hôm nay chúng tôi sẽ đi một đoạn đường khá dài: Pleiku - Kon Tum 50km và KonTum - Ngả 3 Đông Dương gần 100km, nên đã chọn ăn sáng món bánh mì trứng gà ốp-la để mang theo dọc đường, sau đó theo bạn lái xe đến một chỗ bán phở khô trong một hẻm nhỏ. Món phở khô thoạt nhìn gần giống như món hủ tiếu khô ở Sài Gòn. Nhưng sau khi cẩn thận ngồi trộn các thứ đã được dọn kèm ra với bánh phở, một gắp bánh phở trộn rồi và một thìa nước dùng sẽ cho một hương vị rất riêng và… ngon, thịt bò trong tô nước dùng rất mềm ngọt, tóm lại đầu bếp Thanh Quế tuyên bố sáng mai tui ăn phở khô nữa.



Rời quán lề đường và chào tạm biệt thành phố với những con dốc cao cao đi lên đi xuống. Vì kế hoạch đến tối sẽ về ngủ lại Kon Tum để hôm sau đi Măng Đen, nên cũng khá nhẩn nha, ghé mua cà phê mang theo uống dọc đường, đợi khá lâu vì cà phê ở Tây Nguyên này chỉ pha bằng phin, dù là bán cho khách mang theo đi đường.



Phụ nữ uống cà phê sữa đá nên không dám nói là khen có chính xác không nhưng cả 4 bà đều khen cà phê rất ngon, đậm đà, 8 ngàn một ly, một điểm son nữa vì…rẻ.
Bắt đầu rời Pleiku đã 9 giờ, trọng tâm hôm nay là đến cột mốc biên giới, nước ta chỉ có hai tỉnh nằm ở điểm giáp ranh 3 biên giới là Điện Biên và Kon Tum. Ở Điện Biên là bản A Pa Chải của bà con dân tộc Hà Nhì, thuộc xã Xín Mần huyện Mường Nhé (giáp Lào và Trung Quốc). Ở Kon Tum là buôn I ệc của đồng bào dân tộc Ka Dong, thuộc xã Bờ Y huyện Ngọc Hồi (giáp Lào và Campuchia). Có một vấn đề là cậu lái xe người Gia Lai, cửa khẩu Bờ Y thì đã đi rồi nhưng  ngả 3 Đông Dương thì chưa, tôi có tìm trên mạng tuy nhiên không rõ lắm vì mỗi người hướng dẫn một cách, nhưng đường đi trong miệng, nên khi đến thị trấn Plei Kần huyện Ngọc Hồi thì bắt đầu hỏi đường.



Có một điều thú vị, 3 lần hỏi đường đều được chỉ dẫn rất tận tình, nhưng lần nào trước khi chỉ đường cũng đều được hỏi ngược lại, người Kinh thì: “Ủa mà đi lên đó làm gì dzậy?”, người dân tộc thì: “Lên đo lam chi dớ?”. Lần nào cũng ngẩn ra không biết nói sao, bởi vì nghỉ thầm ờ thì tại mình cũng hơi rảnh nên đi, chứ ai người ta cũng đang đầu tắt mặt tối kiếm sống, thành ra cũng không dám trả lời. Đầu tiên là lúc 11.30 ghé vào một quán ven đường, định nghỉ ngơi, đã ăn bánh mì, tráng miệng với 5 ly kem. Tranh thủ hỏi đường, vừa được chỉ đường vừa được báo động: “Hôm nay con đường này đến 2.30 trưa là bị cấm xe đến 9 giờ tối vì đang làm cầu truyền hình Âm vang biên giới, coi chừng đi rồi không ra được phải ở lại đến tối”. Thì ra cùng với 2 điểm cầu khác ở An Giang và Lai Châu, lúc 17 giờ hôm nay 14-12 , tại điểm cầu truyền hình ngã ba Đông Dương, thuộc xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, chương trình “Âm vang biên giới” sẽ khai mạc. Hội ý chớp nhoáng, tất cả đồng ý đã đi đến được gần biên giới rồi thì sẽ đi tiếp, nếu khi quay lại trễ mà bị cấm đường thì ở lại xem văn nghệ, về đến Kon Tum nửa đêm cũng được, phòng khách sạn đã đặt rồi, chỉ liệng túi vô là ngủ thôi. Vậy là ăn nhanh rồi lên đường ngay, đi ngang ngả 3 Ngọc Hồi gặp một sân khấu thật hoành tráng cho buổi tối.


(Ảnh tư liệu)

Tóm tắt các chỉ dẫn lên cột mốc ngả 3 biên như sau: Đi vào thị trấn theo đường thẳng sẽ gặp một ngã tư, là chỗ giao nhau của ba con đường: đường Hồ Chí Minh (tức đường 14, tên cũ là đường 18), đường 14C và đường 40. Đường 40 rẽ ngoặt về hướng Tây đi vào khu vực biên giới, chỗ rẽ ấy chính là ngã ba Đông Dương. Lần thứ 3 hỏi đường được chỉ thêm rất cẩn thận: “Trước khi đến cửa khẩu Bờ Y, bên tay phải có trạm biên phòng, ghé qua đó các anh biên phòng sẽ hướng dẫn cho”.



Đến ngả 4, chạy thẳng đường 40… không thấy trạm biên phòng nào hết, chạy luôn một lúc thấy… cửa khẩu Bờ Y.



Xuống xe gặp hải quan cửa khẩu, hỏi đường lên cột mốc ngả 3 biên, câu đầu tiên được hỏi là: “Các cô có đem theo giấy CMND không ?”. Trả lời có, được hướng dẫn tiếp: “Các cô quay lại đi đến khi nào thấy cây xăng, đối diện là trạm biên phòng, vào đó để các anh ấy hướng dẫn thủ tục”. Lại quay xe ra, lần này đi chầm chậm, đến cây xăng đang ngơ ngác thì thấy bên trái có bản chỉ dẫn trạm biên phòng ở bên trong con đường rẽ vào, nhìn lên hóa ra trạm ở trên một ngọn đồi bên cạnh con đường.



Chạy xe lên trạm, vắng tanh vắng ngắt, nhìn đồng hồ đã 12.20, là giờ nghỉ trưa, tưởng đâu phải đợi đến giờ làm việc, nhưng may có một bạn chó biên phòng thấy động sủa om sòm, một anh bộ đội đi ra, sau khi nghe lý do ghé trạm, anh cũng bèn hỏi câu đầu tiên: “Các cô đi mấy người, có đem theo giấy CMND không ạ?” Trả lời có, và định lục túi lấy giấy tờ ra nhưng anh đã đi thẳng ra cổng, ngó qua cái xe, và hướng dẫn: “Bây giờ cô đi ra cửa khẩu Bờ Y nhé, nói với các anh ngoài đó là đã ghé qua đây và biên phòng đã đồng ý để các cô lên cột mốc rồi. Các anh ấy sẽ chỉ đường đi cho cô nhé.” Mình ngớ ra, hỏi lại:”Thế có giấy tờ gì của các anh để cầm theo không ạ?” “Không sao đâu, cô cứ đến đó và nói thế là được rồi”. Chẳng biết làm sao, đành cám ơn và lại chạy xuống cửa khẩu, gặp lại anh hải quan biên giới, nói y như vậy, lần này anh hỏi lại: “Các anh trên đó đồng ý rồi phải không. Các cô có giấy CMND chứ?” Lại gật đầu và định lôi giấy tờ ra, nhưng anh đã tiếp tục: “Bây giờ cô chạy thẳng vòng qua cạnh cửa khẩu nhé, đến khi gặp một ngả 3 đầu tiên thì rẽ tay trái, sẽ đi ngang một trạm có  barie, báo cho biết cô muốn đi lên cột mốc, người ta sẽ mở barie cho xe cô đi, chạy thẳng đường đó độ 9 km là đến chân đồi có cột mốc”. Sau đó anh lại thêm: “Giờ này buổi trưa, nếu không có ai ở đó thì cô… tự mở barie để đi”. Mình chẳng hiểu sao, thấy chỉ hỏi thôi mà không anh nào buồn xem giấy tờ của mình, bèn nghĩ hay là tại cái mặt bầy tui… quá lương thiện! Đến ngả ba biết là đã đúng đường nhưng vẫn cẩn thận dừng xe hỏi một anh người dân tộc đang đi, anh gật đầu chỉ quẹo tay trái và nói thêm là đi 1 cây số nữa là đến. Lại thắc mắc, biên phòng nói đi 9 cây số nữa, anh dân tộc nói 1 cây. Nhưng thôi đúng đường thì cứ đi, đường tốt và khá đẹp, cỏ lau trắng và cỏ đuôi chồn hồng hai bên ven đường.









Nhưng đi cũng khá lâu, lại bàn tán với nhau, cây số của anh người dân tộc Ka Dong  chắc phải khác cây số của bộ đội biên phòng, đi mãi đến khi đường nhựa thành đường đất thì có 1 cột cây số bên đường ghi 1km. Vậy là anh Ka Dong nói cũng đúng, có 1 cột cây số duy nhất ghi vậy thì anh nói vậy thôi.







Đã đến chân cầu thang đá dẫn lên cột mốc.



Nhìn tấm bảng ghi độ cao ngọn đồi là 1.086m rồi nhìn các bậc thang dẫn lên đồi và nhìn nhau, leo đồi đang buổi ban trưa, chị Quế tuyên bố tui sẽ đi lên, chừng nào đi không nổi tui sẽ nghỉ.



Dĩ nhiên đến đây rồi thì phải leo thôi, cũng hơi ngán vì đi lên chỉ thấy những khúc ngoặt trước mặt mà không biết còn bao nhiêu bậc thang nữa, nhớ hồi leo núi Ba Vì có 500 m cuối mà đã đến 1.000 bậc thang.



Nhưng chỉ phải qua 3 khúc ngoặc thôi đã nghe cậu lái xe reo lên phía trên, sắp đến rồi các cô ơi.



Ái chà, chắc chỉ hơn 100 bậc thang, hóa ra độ cao ghi trên bảng là so với… mặt nước biển, leo lên không mệt lắm, nhưng cảm giác khi nhìn thấy cột mốc trên đỉnh đồi thật tuyệt vời.



Cột mốc nặng 900 kg , làm bằng đá hoa cương hình trụ tam giác, cao 2 mét, trên mỗi mặt cột mốc quay về mỗi nước được gắn quốc huy, năm cắm mốc và tên quốc gia đó  bằng chữ của chính nước đó.



Nhặt được một ngọn lau, cầm lên chụp hình với cột mốc trong cảm giác thật trẻ thơ khi nhớ về một thời Đinh Bộ Lĩnh với cờ lau tập trận.



Chẳng có con gà nào ở đây nhưng đúng là nếu như có một con gà trống đứng đây gáy thì cả 3 nước đều nghe, vì bước xuống bậc thang là ranh giới ngay.









Không có bóng cây trên đỉnh đồi này, lộng gió nhưng nắng chói chang, chắc vậy nên cả 3 bên đều bắt đầu trồng cây, cây còn nhỏ xíu chỉ thấy các bảng tên, cây bên nước nào bảng tên bằng chữ nước đó. Phía Việt Nam có một cây chuổi ngọc đã bắt đầu có hoa nhưng được bó chặt lại có lẽ vì sợ gió thổi ngã. Ngọn đồi này có tên là Đồi Tròn cách đường tuần tra biên giới của bộ đội biên phòng không xa, nhìn những bông hoa hiếm hoi trên đỉnh đồi nhớ bài hát mà cậu lái xe đã cho nghe suốt từ khi ở cửa khẩu vào:… Phía sau chùm hoa ấy là dấu chân lặng thầm cỏ mùa này non vậy mà đất nóng âm âm... Phía sau chùm hoa ấy mũi súng canh đường biên chiến sĩ mình trẻ quá đang bám trụ ngày đêm…



Đi xuống các bậc thang, nhìn núi đồi hùng vĩ chung quanh, bước chân lâng lâng.



Xe chạy về quá ngả tư một chút thì bị chặn lại, anh cảnh sát giao thông nói rất dễ thương: “Đường này không đi được vì đang chuẩn bị cầu truyền hình, bây giờ xe quay lại đi đường Hồ Chí Minh vòng ra, đi đường đó đẹp hơn đường này”. Quả nhiên nhờ bị cấm đường mà đi được một đoạn đường thênh thang rất đẹp, đường rộng 6 làn xe, mà rất ít xe nên dân tận dụng để … phơi sắn.







Về đến Kon Tum đã 4 giờ chiều, lúc đó mới nhớ ra là chưa…ăn trưa. Ăn xong ghé nhà thờ chính tòa, nhưng sẽ kể trong một dịp khác khi nói về nhà thờ ở Kontum và chùa ở Pleiku vì các nhà thờ và chùa ở đây đều rất đẹp. Kết thúc một ngày đường, về khách sạn, cũng đặt trước qua online, thấy trên ảnh khá đẹp, kiểu resort, giá lại khá mềm, 240 ngàn một ngày phòng 2 người, lại gần cầu treo Kon Klor, gần sông Đăk Bla, mặc dù hơi xa phố chính.







Khách sạn thật bên ngoài muốn đẹp hơn trong ảnh, nên khi vừa nhận phòng xong, lát sau bước ra sân thấy mặt trăng thấp thoáng sau mấy ngọn tre, chị Quế đã quyết định ngay là sẽ ở lại Kon Tum 2 đêm thay vì một như kế hoạch và sẽ đi thẳng ra sân bay Pleiku khi đến ngày về. Tôi đi dạo dạo một vòng bên ngoài, hóa ra khách sạn nằm giữa thôn Kon Klor của người BaNa, đến phiên tôi cũng muốn ở lại. Vậy là tối đó cả nhóm sau khi lang thang phố chính của Kon Tum đã quyết định thay vì ngày mốt  về Pleiku, vì như chương trình đã định Pleiku 2 ngày và Kon Tum 2 ngày, sẽ ở lại Kon Tum thêm ngày cuối và chỉ về Pleiku để ra sân bay. Không ngờ đó là một ngẫu hứng hết sức đúng, vì cả 3 ngày ở Kon Tum đều rất hay. Ánh trăng suông đã níu lại chân người.


(Ảnh Nguyễn Thanh Quế)
Đọc tiếp ...