Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG - CAMPUCHIA I: Nụ cười Bayon

Tặng Gió Heo May
   
Photobucket

Chuyến đi này đã lâu rồi, cách đây khoảng muơi năm, khi tóc tôi chỉ mới chớm bạc và chân tôi còn khỏe, tôi đã đi theo một nhóm bạn trẻ du lịch bụi Campuchia, ký ức mạnh mẽ về đất nước có một quần thể kiến trúc tuyệt vời hơn 100 ngôi đền bằng đá vẫn nằm trong tôi. Lúc đó chưa có  blog, và đến bây giờ tôi mới viết blog. Khi tôi nhìn nụ cười của một cô bạn trên blog của cô, người phụ nữ mà những cơn gió lớn cuộc đời làm oằn vai cô, nhưng nụ cười của cô vẫn làm mềm lòng người nhìn. Cô làm tôi nhớ đến chuyến đi này…
Một chuyến đi tập họp những người có thể nói tàm tạm tiếng Campuchia, tiếng Pháp, tiếng Anh và giỏi nhất … tiếng Việt, túi nhẹ tiền mà lại thích du lịch, thời điểm đó Campuchia là thích hợp nhất, trừ tiền visa là 25 USD/người khi qua biên giới và vé vào cổng Angkor 20 USD/người/ngày, còn thì các chi phí khác gần giống như chúng tôi đang sống một ngày bình thường ở Việt Nam, và chúng tôi đã đi ngẫu hứng, không giống như chương trình tour Campuchia của các công ty du lịch.  Vậy lại hóa hay, có thể ngừng lại bất cứ nơi nào thích, để có thể hiểu Campuchia nhiều hơn một tour du lịch có chương trình, nhưng cũng có điều dở, vì lang thang nhiều ngày ở các nơi, nên chỉ có một ngày với Angkor, đến đó mới biết 1 ngày là không đủ, tôi đã tiếc đến nổi vài năm sau nữa tôi quay lại Angkor và ở đó 3 ngày, vẫn chưa phải là nhiều nhưng ít nhất cũng đủ để tôi không phải tiếc nữa.

* Thoáng qua đất nước và con người Campuchia

          Đầu tiên khi bước qua khỏi khu vực hải quan mang kiến trúc đặc thù Campuchia, xe đi qua các làng mạc thì tôi lại thấy như đang ở Việt Nam, cảnh làng quê giống hệt Sóc Trăng, Hà Tiên…, nhưng khi đến bến phà đầu tiên, nhìn những chiếc xe chở người Campuchia  đi ngược chiều tôi sửng sốt…

Photobucket
  
Thoạt tiên tôi nghĩ do xe ít mà nhu cầu người đi quá đông, nhưng  sau này thấy có những chuyến xe ít người ngồi bên dưới mà vẫn có người ngồi vắt vẻo trên nóc xe, hỏi ra mới biết, thứ nhất giá tiền ngồi trên nóc xe rẻ hơn ngồi trong xe và thứ hai theo như chính người ngồi trên nóc xe nói là ngồi trên đó… mát hơn!

          Làng mạc, con người, hoa sen… thoạt nhìn cũng tương tự Việt Nam, thật ra rất…  Campuchia

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Bóng dáng những chiếc áo vàng ở đường lên một ngọn núi mà người Campuchia cho rằng có dấu chân của Phật nhắc tôi nhớ Campuchia hiện tại là nơi mà đạo Phật như quốc giáo.

Photobucket

Nhưng điều làm thú vị là khi ghé ngang con sông Ngàn Linga với vô số linga nằm dưới lòng sông cho thấy từ xa xưa đất nước này lại mang dấu ấn đạo Hindu.
 Photobucket

Ở con thác nhỏ đầu dòng sông này, những người Campuchia đến tắm dưới dòng chảy của con thác hiền vì họ tin rằng khi ngồi tắm ở đó và khấn nguyện thì sẽ được như ý. Tôi nghĩ khi người ta có niềm tin chắc là sẽ thấy hạnh phúc.

Nhưng điều choáng ngợp nhất chuyến đi lần đầu đến Campuchia vẫn là Angkor.

Photobucket

Khi tôi tận mắt nhìn thấy những ngôi đền ở Angkor thì cứ như bị đấm một cái vào ngực, tôi nghĩ nhà thám hiểm người Pháp Hessi Mouhot năm 1860 khi lần đầu tiên vạch những bụi cây trong một góc rừng già và thấy Angkor hiện ra trước mắt chắc cũng có cảm giác như vậy. Sao lại có một nền văn minh rực rỡ đến thế của con người lại bị ngủ vùi trong rừng rậm, và tôi thật tiếc, chỉ có một ngày ở Angkor, chúng tôi đã tiêu phí những ngày ít ỏi của chuyến du lịch tại nhiều nơi trên đất nước Campuchia, nên dừng chân ở Angkor có  một ngày, chỉ 3 ngôi đền Angror Thom, Angror Wat và Ta Prohm cùng đỉnh núi Bakheng đã ngốn hết  một ngày. Ở ngôi đền nào cũng vậy, bước qua cổng như bước qua cánh cửa thời gian, bỏ lại sau lưng thế giới của thế kỷ hiện đại, trở lại với thời gian của gần 1.000 năm trước.

* Nụ cười Bayon:

Angkor Thom có nghĩa là Thành phố vĩ đại, kinh đô cuối cùng của đế chế Angkor, sau khi vua Jayavarman VII dành lại được thủ đô từ tay người Champa, đã xây dựng từ cuối thế kỷ  XII theo phong cách Phật giáo (khác với Angkor Wat được xây dựng theo sử thi Ramayana của Ấn Độ). Có đến 5 cổng thành có tường cao hào sâu chung quanh thành phố cổ xưa này, chúng tôi đi như mọi người vào cổng phía Nam, đó là một đại lộ mênh mông với hai bên là công viên cây xanh cao vút có những bầy khỉ rất dạn dĩ, hai bên đường là hai hàng tượng đá – thiện ở bên trái, ác ở bên phải –108 nhân vật thần thoại nắm giữ thân rắn thần Naga trên đầu gối và đứng canh gác cho cổng thành. Nơi bắt đầu con đường, tượng Naga tỏa thành 9 đầu xòe hình nan quạt, thân rắn cùng đoàn tượng đá kéo dài hơn 200m đến gopuras (cổng vào). Đỉnh của mỗi gopuras là 4 khuôn mặt khổng lồ tạc vào đá với đôi mắt khép hờ nhìn ra 4 hướng.

Photobucket

Bước qua cổng chỉ có những phương tiện không có động cơ mới được phép đi lại trong kinh đô cổ có chu vi 12 km này. Tấm ảnh tôi chụp trước cổng cho thấy sự nhộn nhịp ngày nay với lượng khá đông du khách ở đây.
 Photobucket

Tôi tìm được trên mạng tấm ảnh minh họa đúng với tên tôi muốn gọi: Cánh cổng thời gian.

 Photobucket

Bước qua cổng thời gian, phế đô hiện ra sừng sững mà điêu tàn, tôi ngậm ngùi khi liên tưởng đến nơi đây đã từng được xây dựng như hình ảnh của một tiểu vũ trụ mà mỗi con đường dài dẫn tới mỗi goguras là hình ảnh cầu vồng nối liền thế giới của thần thánh và con người. Đi sâu vào bên trong, đền Bayon hiện ra, tôi đứng đó và ngơ ngẩn, những gương mặt khổng lồ hiền lành mà bí ẩn vây chung quanh, con người trở nên nhỏ xíu trước sức nặng của ngàn năm lịch sử đổ xuống.
Photobucket 
Photobucket
  
Tôi như lạc trong mê cung của  54 ngọn tháp tượng 4 mặt thần Lokesvara (còn gọi là thần  Avalokitesvara) tượng trưng cho sự quan sát của thần linh về 4 hướng. Hãy hình dung  bạn lạc vào một điện thờ hình tròn với 12 gian tỏa chung quanh, và nối với vô số những ngọn tháp nhỏ, mỗi tháp có 4 gương mặt với nụ cười Bayon nổi tiếng, tưởng chừng như giống nhau nhưng đó là 216 gương mặt với 216 nụ cười khác nhau, mỗi gương mặt là một nét riêng, nhưng đều rất thông tuệ, luôn gắn với một nụ cười thật lặng lẽ, hiền lành và đầy bí ẩn, có một điều gì đó mơ hồ ẩn sâu bên trong.

Photobucket

Photobucket

  Tôi nghĩ ở độ cao trên 25m đó các vị thần đã phải nhìn những thăng trầm của đất nước Campuchia 800 năm qua, các nụ cười bằng đá u uẩn trước một nền văn minh rực rỡ bỗng chốc biến mất mà cho đến nay vẫn chưa tìm ra lời giải thích, tìm lại trong lịch sử chỉ thấy các cuộc chiến tranh ở Campuchia từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX chưa đủ tàn khốc để xóa sạch một nền văn minh, không thấy dấu tích một trận dịch bệnh lớn để tiêu diệt hết những nghệ nhân  đã làm nên một kinh đô bằng đá nhưng rất lãng mạn, không hề thấy sự nặng nề của đá. Dường như bí mật lịch sử nằm trong các nụ cười Bayon.

Photobucket

Tôi chụp một tấm hình đứng gần các vị thần, nụ cười của tôi nhạt lắm vì nỗi đau cuộc đời tôi như hạt cát so với nỗi đau của một kinh đô bị quên lãng trong rừng già. Tôi sẽ trở lại Angkor một lần nữa vì các ngôi đền bị lãng quên này.
Photobucket

Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

CHỈ CÓ TÌNH YÊU...THÌ CHƯA ĐỦ

Photobucket

 

Đó là chuyện với mảnh vườn nhỏ của tôi, tôi yêu nó và sự thật là nó đã trở nên khốn khổ khi về sống với tôi, một người có thâm niên trồng hoa… trong chậu, khách hàng thân thiết của cô đẩy xe bán chậu kiểng đi ngang nhà, vì thường xuyên mua cây mới! Vậy mà tôi rất tự tin khi cho rằng với kinh nghiệm nhiều năm trên rẻo đất chút xíu trước sân nhà tôi sẽ trở thành người làm vườn khi có cơ may nào đó. Và rồi tóc có vài sợi bạc, tôi sợ già, một người bạn khuyên nghĩ đến cái gì tích cực hơn đi, kẻo… già thật đấy, thế là tôi lại mơ mộng (18 tuổi mơ mộng, 28 tuổi cuộc đời vật lên vật xuống hết mộng mơ, 38 tuổi lại mơ trở lại), cũng bắt chước người khác tôi có một ước mơ hết sức… thời thượng: mơ có một mảnh vườn. Rồi tôi làm việc cật lực để bỏ ống heo, cũng may lúc đó tôi có một việc cần phải quên, tôi cày như điên.. để không phải nhớ. Thế đấy, nỗi thất vọng này có khi lại bắt đầu cho một hy vọng khác. Ngày rộng tháng dài, tóc tôi đã nhiều sợi bạc hơn, không cần phải sợ thì cũng đã già thật rồi, và tình cờ một cơ duyên tôi đã có một ngôi nhà vườn, mà lại là vườn trên Đà Lạt. Bởi vậy, yêu lắm! Ngôi nhà và mảnh vườn nằm trên lưng chừng một ngọn đồi, nên phải qua một con dốc đứt hơi để đi vào, bù lại tôi có riêng cả mấy ngọn đồi và 2 dãy núi xa xa để nhìn từ phía trước nhà. Vườn nằm thoai thoải theo triền đồi, từ một kẻ không có miếng đất cắm dùi, nay là chủ vườn, sướng không chịu được, tôi mê mẫn ngôi nhà vườn của tôi, và trở thành kẻ phụ tình với  Sài Gòn, tôi chẳng còn để ý gì đến Sài Gòn nữa. Gia đình thỉnh thoảng lên đó để nghỉ ngơi, bạn bè lên đó để ngao du sơn thủy, còn tôi lúc nào có cơ hội là tôi chạy lên để… lau nhà và nhổ cỏ vườn. Gia đình xem tôi là lão hà tiện Harpagon của Molière, nhưng vì chẳng còn đồng tiền vàng nào trong tráp để mở ra ngắm nghía, lau chùi, nên tháng tháng chạy lên Đà Lạt để lau chùi, dọn dẹp nhà cửa vườn tược vậy.

Nói như vậy để thấy tình yêu của tôi với mảnh vườn là lớn lắm, nhưng tôi không nhận ra là từ khi về sống với tôi, mảnh vườn trở nên khốn khổ. Tôi chăm sóc nâng niu lắm, tôi khen cây mít khi nó ra nhiều quả, tôi hát cho cây dâu tằm nghe khi tôi hái trái, tôi so sánh trái cà phê chín đỏ sáng lấp lánh như mặt trời nhỏ trong vườn, tôi mừng như trẻ con được kẹo khi hoa tường vi, hoa magarit, hoa hồng, hoa cúc trắng, hoa cô ban tím, hoa cosmot vàng, hoa bướm… bắt đầu nở bên góc nhà, rồi tôi trồng được một cây mimosa mà tán lá của nó đẹp nhất trong xóm, tôi có một cây mai anh đào cuối vườn nở rất đẹp, mùa xuân năm đó, người Đà Lạt còn phải khen. Lúc nào cũng thấy tôi lẩn khuất đâu đó ngoài vườn nhổ cỏ (ôi dào, cỏ mọc cả tháng, tôi lên nhổ cỏ được vài ba ngày, vào mùa mưa vườn lúc nào cũng đầy cỏ dại), nhưng làm vườn không chỉ là nhổ cỏ, tôi cứ tưởng như vậy là tôi đã yêu lắm rồi, chăm sóc nhiều lắm rồi. Tôi không hề biết đến mùa mưa đất trong vườn tôi khóc vì… đau.

Mùa mưa

Đà Lạt mùa mưa có những ngày nhà tôi đẹp lắm, đó là khi buổi sáng nắng tốt, xế trưa trời mưa, đến chiều và cho đến sáng hôm sau, thung lũng trước nhà tôi đầy sương mù, mảnh vườn huyền hoặc trong sương, bạn bè lên nhằm những ngày này, tròn xoe mắt: “Như Sapa... á”, nghe thích vô cùng, vì vậy mùa mưa năm đầu tiên tôi chỉ nhìn lên trời. Và những con dốc Đà Lạt, những con dốc rất hiền hòa, thơ mộng với dã quỳ mùa thu, for get me not mùa hè, mai anh đào mùa xuân, và phượng tím cuối mùa đông, nhưng khi trời mưa thì những con dốc lại dữ dội vô cùng, nước cuồn cuộn như thác. Nhà tôi nằm trên lưng đồi, chung quanh toàn những con dốc, khi mới về hàng xóm bảo mùa mưa nhớ khơi đường thoát nước, tôi vâng dạ, đầu mùa mưa mượn người đào lại mương thoát nước rộng rãi đàng hoàng, mùa mưa đến, khi có trời mưa tôi chỉ ngó lên trời, mơ mộng với những cơn mưa, năm đó nhiều cơn bão rớt ghé qua Đà Lạt, mưa như không còn nước trên trời, mỗi tháng lên vài ngày tôi cũng chỉ nhìn trời không nhìn đất, không biết rằng đến giữa mùa mưa con mương thoát nước bên hông vườn đã đầy những cây gãy, những lá, những rác và đủ  thứ bà rằng từ các con dốc chung quanh đổ về, mương trở nên đầy nghẹt, nước chảy tràn qua vườn, xói đất đau buốt (trời mưa, nước từ dốc chảy xuống vườn như cái thác Datanla nhỏ), tôi không hề biết chuyện đó. Gần cuối mùa mưa, tôi đang ở Sài Gòn, hàng xóm gọi điện: “Cô ơi, vườn nhà cô bị lở đất rồi, cô lên mau đi, không thôi hết mùa mưa, đất vườn nhà cô còn… phân nửa”. Cha mẹ ơi, từ nhỏ tới lớn tôi chỉ biết nông dân bị mất đất bởi cường hào ác bá, tôi đâu biết đất cũng có thể bị mất do… ông trời. Chạy lên, xót xa nhìn, vườn sụp hẳn một góc cuối vườn, màu đất đỏ như bị thương, hỏi: “Rồi bây giờ làm sao?” Hàng xóm bảo “Phải xây taluy chận lại, mới giữ được đất”.

Xây taluy – nói nghe nhẹ như không, đến chừng làm… nặng như đá, đó là một bức tường tạo bởi những viên đá xanh nặng 5,7kg, với một cái chân bê tông để giữ cho chắc chắn bức tường đá nặng trịch đó, chỉ với một mảnh taluy dài 12m, cao 4m (đâu làm nổi hết quanh vườn) mà con heo đất còm cõi trông thấy (tôi lại nuôi heo cho một ước mơ khác), taluy xây xong nhưng chắc là đất còn đau lắm, cây hồng dòn cuối vườn dần chết khô, cũng may những bụi chè xanh vẫn còn gượng được và lại xanh tốt. Mùa mưa 2 năm sau đó, mọi việc bình yên, lúc này tôi vẫn nhìn trời nhưng đã biết nhìn thêm xuống đất, tôi thật chẳng muốn nước làm bị thương mảnh vườn của tôi nữa, nhưng nhìn trời nhìn đất, còn phải nhìn sang chung quanh, mà tôi lơ đãng lắm, nhà hàng xóm xây lại nhà, càng tốt, nhà người ta đẹp, mình bên cạnh cũng… thơm lây, nhưng tôi không biết (lại không biết), đất đào nền được đổ ra vườn, và đất vườn nhà hàng xóm cao hơn bên vườn nhà tôi, trời mưa, nước chảy chỗ thấp, một góc vườn bên trái nhà tôi dần thành cái thác nhỏ mà tôi không hay. Lại một lần giữa mùa mưa hàng xóm gọi, lần này bi kịch hơn, cây mai anh đào của tôi, một cây mai anh đào rất đẹp, đã theo đất lở rơi xuống vườn thấp hơn của nhà bên dưới, lần này thì tiếc ngẩn tiếc ngơ, bởi vì theo tôi đó là cây mai anh đào…đẹp nhất ???

  Lại làm taluy, và cũng chỉ được ở một góc vườn nữa thôi, con heo đất chẳng còn nữa, một giấc mơ khác vậy là xa vời vợi nữa rồi. Nhưng bây giờ ước mơ đó với tôi không quan trọng nữa  mà vấn đề là sự vô tình của tôi lại cứ làm đau đất. Sự bất quá tam, tôi mong sẽ chẳng có lần thứ 3 nữa.


Photobucket

Mùa nắng

Đến mùa nắng đất đau cách khác, khô ran vì thiếu nước, một tháng tôi lên năm ba ngày, những ngày đó vườn được tắm mát, nhưng 25 ngày còn lại trong tháng, tội nghiệp cho cây trong vườn, từ tháng 11 đến tháng 3, Đà Lạt nắng vàng mật ong buổi sáng nhưng đến trưa nắng chói chang chẳng kém Sài Gòn, cây lá trong vườn héo rũ, đợi đến đêm sương xuống, uống sương cầm hơi, đến sáng sớm cả vườn tươi tắn trở lại, đến trưa lại héo rũ, chờ đến tối uống sương, cứ như vậy vật vã cả một mùa khô, nhưng dù khốn khổ đến vậy, mảnh vườn của tôi vẫn cần mẫn làm tròn nhiệm vụ của nó, dây su su với các đọt non xanh muớt sống lây lất mùa khô, khi mưa đến đong đưa trái như những cái chuông màu xanh, bí rợ cho quả vàng ươm,  bọn trẻ con trong nhà đếm các trái mít trên cây so sánh năm này với năm khác nhiều hay ít hơn, cô em dâu canh lúc nào dâu tằm chín rộ để lên hái về làm mứt, ngâm rượu, cậu em trai thì sau khi uống cà phê nhà trồng tự rang tự xay đâm ra không uống cà phê ngoài phố được nữa, còn những bông hoa trong vườn nhà tôi rất cố gắng để nở hoa: magarit trắng, tường vi hồng, thiên lý cam, cosmot vàng, loa kèn dại trắng muốt … cho hoa  quanh năm,  thỉnh thoảng những cây forget me not xuất hiện yếu ớt trong góc vườn, có lẽ gió đưa hạt bay đến, rồi mùa xuân hoa mai anh đào, hoa bướm, mùa hè mimosa, mùa thu dã quỳ, mùa đông cô ban tím… những bông hoa tội nghiệp, ít ỏi, cánh mỏng, màu nhạt, mong manh hơn đồng loại ở những vườn hoa khác, chỉ vì chúng nó sống với tôi, một người thành phố đi làm vườn.


Photobucket

 

Có vẽ ngôi vườn của tôi cần tình yêu một người làm vườn thực thụ, với tình yêu của người thành phố làm vườn thì nó khốn khổ quá.Thế mới biết, chỉ có tình yêu thôi thì chưa đủ, ta sẽ làm đau người mình yêu mà không biết, vậy nên, đừng vì thiếu biểu biết… mà bị mất… người yêu!!!
Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

CÔNG CHA NHƯ NÚI THÁI SƠN; NGHĨA MẸ NHƯ NƯỚC TRONG NGUỒN CHẢY RA

Sáng nay, 5 giờ  bước ra đường đi bộ tập thể dục buổi sáng như thường lệ, đi ngang trường Bùi Thị Xuân, ôi chao, nhớ ra hôm nay thi Đại học, giờ này đã có sĩ tử ngồi trước cổng trường rồi, hai cô bé, ngồi ôn bài dưới ánh vàng của đèn đường, ngừng lại hỏi: Con ơi, còn sớm quá mà, hay là đi về nhà bác nghỉ chút đi, nhà bác gần đây thôi. Hai cô nhỏ cười bẽn lẽn: Tụi con ngồi chờ chút là trời sáng mà. Chưa kịp nói thêm thì có bóng mũ cối đi tới: Ăn bánh mì nghe 2 đứa, giờ này còn sớm quá, chưa có bán gì nhiều. Đứng lại hỏi thăm, ông bố mặt đầy vết nhăn cực nhọc của ngày tháng, nhưng giọng thì như hân hoan: Cha con từ Đắc Lắc xuống, ở nhà người quen bên Phú Lâm, lo đi sớm tại sợ lạc đường thì cũng còn thì giờ đi kiếm đường, với lại lát nữa đông lắm, sợ kẹt xe, con nhỏ này là con, con nhỏ này là cháu, con thằng em. Nói rồi quay ra lăng xăng, đưa 2 ổ bánh mì, đi kiếm chai nước trong giỏ xe, tháo cái nón cối ra quạt quạt cho con, trời sáng sớm còn mát mà quạt nỗi gì. Tôi chúc cha con bác cháu hôm nay thắng lợi rồi bước đi mà lòng nao nao khi nhớ tới cái mũ cối quạt quạt bên 2 mái đầu đang cúi xuống cuốn tập để xem bài. Cha mẹ nào đưa con đi thi cũng biết cái cảnh đứng trước cửa trường đợi con, mình ở tại Sài Gòn, quen nước quen cái, con mình còn được ngủ thêm chút xíu, sĩ tử ở xa như 2 cô bé này, thương quá.

Đường Sài Gòn sáng sớm nay đã rộn ràng từ rất lâu, bóng áo trắng đi thi nhộn nhịp trong cái mờ mờ nhập nhoạng của sáng sớm. Đi bộ ngang chổ bán hủ tíu mì lề đường, cố tình đi chậm để nghe tiếng của một ông bố khác: Cho một tô hủ tíu mì… ừ… một tô thôi. Không muốn đoán già đoán non, nhưng không hiểu sao tôi lại cứ muốn tưởng tượng ra, từ xa lặn lội đưa con lên Sài Gòn đi thi, cái xứ này gạo châu củi quế, tiết kiệm từng đồng, nhưng sáng nay con thi môn đầu tiên, rán mua cho con tô hủ tíu ăn sáng lấy sức làm bài. Đi tới một khúc quẹo khác là chỗ bán cơm tấm bình dân, thấy một chị ngồi ngó thằng con trai cao hơn mình cả hai tấc đang cắm cúi ăn dĩa cơm sườn, tôi nghĩ chị ngó nó ăn chắc cũng thấy no rồi.

Cái sự học của nước mình hay dở thế nào thôi đừng bàn tới ở đây, chỉ muốn nói nhìn cảnh cha mẹ đưa con đi thi sáng nay tôi thấy câu ca xưa thật thấm thía: Công cha như núi Thái sơn; Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Các con sĩ tử ơi, rán làm bài cho tốt, nhìn cảnh cha mẹ các con đứng trước cổng trường, thiệt tình tôi nao nao trong dạ.
Đọc tiếp ...

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2011

SÀI GÒN... SƯƠNG MÙ

Sáng nay Sài Gòn có sương mù, mà tôi lại… ở Lái Thiêu. Ngày hôm qua nhìn thấy nắng suốt buổi sáng, đến xế trưa. trời mưa lớn tôi biết thế nào cũng có sương mù, sáng nay nhìn những ngọn dừa mờ ảo trong Tịnh An Viên, tôi vừa đi bộ trên con đường nhỏ đầy sương mờ mịt trong xóm, vừa gọi điện cho một người bạn mà tôi biết giờ này đang đi bộ trong Tao Đàn, bạn trả lời:  “Ừ, sáng nay sương mù nhiều lắm, ra đây đi,  nhìn sương cho đỡ nhớ Đà Lạt”. Ừm… nhưng bây giờ thì tôi đang nhớ Sài Gòn, tôi tiếc quá, những buổi sáng sương mù hiếm hoi này, Sài Gòn như mềm ra, dễ lay động trái tim bạc tình của tôi. Tôi nhớ những buổi sáng mù sương thế này thuở xưa, áo dài trắng huyền ảo trên con đường đầy lá sao vàng rụng xuống đất, các cậu học trò áo trắng, phù hiệu đạp xe lãng đãng phía sau, tôi nhớ Phạm Thiên Thư, nhớ Phạm Duy, nhớ Thái Thanh… “Anh theo Ngọ  về…, đường mưa nho nhỏ…”.

Người ta nhìn Sài Gòn Bằng nhiều cách khác nhau, người lạc quan nhìn Sài Gòn bằng con mắt hãnh diện, thành phố này hiện đại và năng động nhất nước, nhìn Sài Gòn từ trên cao trông từa tựa một thành phố hiện đại ở nước ngoài. Người bi quan nhìn Sài Gòn với những khu nhà ổ chuột, những người sống ở vỉa hè, những nơi bán cơm trắng vì có những người sống ở Sài Gòn ăn cơm trưa bằng 2 ngàn đồng cơm trắng với 3 ngàn rau muống xào. Tôi đã qua thời lạc quan, tôi cũng đi qua thời bi quan, tôi bây giờ với tài khoản thời gian không biết còn bao nhiêu, tôi nhìn Sài Gòn cho tôi.

Và buổi sáng mù sương này, tôi tiếc quá, tôi không biết làm thơ, tôi nhìn mọi việc khá là thô thiển. Việc này có thể ví như, hàng ngày tôi đã quen với sự cáu kỉnh thường xuyên của bà vợ của mình, cuối ngày về nhà chỉ có con Ki ra mừng tôi, bà vợ không thấy bóng đâu chỉ nghe giọng: “ Coi chừng, bỏ cả vớ ra, nhà mới lau…”, “Nhè nhẹ thôi, cu Bi mới dỗ ngủ xong…”. Hoặc có một buổi chiều đi dự tiệc, bà vợ của tôi bỗng hóa thành một bà hoàng với váy viếc lượt là, vòng vàng nhẫn xuyến sáng rực trên người, nước hoa thơm phức, dắt cái xe cũ kỷ ra mới thấy không xứng với vợ, đành tốn tiền đi tắc xi vậy. Nhưng cũng có một ngày cuối tuần vợ đi chợ mua được mớ cá đối sông tươi roi rói, nho nhỏ như những chiếc lá ánh bạc, về nhà cặm cụi cho vô nồi áp xuất kho cho mềm cả xương ra, rồi lại lấy ra cho vào cái ơ kho quẹt, hái một mớ rau sống trồng thủy canh trên  lan can lầu, nhìn bữa cơm có cả mùi ngai ngái của con sông, của đất ruộng… Vậy mà tôi phải thay đồ đi ăn… cơm khách. Tiếc quá bạn ơi!

Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

NỢ...MỘT LỜI XIN LỖI SÀI GÒN

Sài Gòn trời mưa, ào ào, mãnh liệt như giận dữ nhưng chỉ một lát rồi thôi, mưa ngưng, nắng lại chan hòa như chưa từng có mưa đi qua. Một buổi chiều như vậy, tôi trú mưa trong một hiên nhà và nhìn ra đường, tôi chợt nhận ra tôi chưa hề nhìn kỹ Sài Gòn. Tôi, kẻ mà cuống nhau được cắt tại một nhà bảo sanh ở Quận 4 Sài Gòn, tôi đã được nuôi lớn ở đây, tôi đã học, đã yêu, đã làm việc, đã nghỉ hưu tại Sài Gòn này. Vậy mà dường như chưa bao giờ tôi nhìn kỹ Sài Gòn, lúc nào ra đường cũng khẩu trang che kín mặt, vội vội vàng vàng, đến nơi làm việc, đi dạy, đi chợ, vào quán cà phê, đi shopping…, lúc nào cũng than thở: Sài Gòn nóng quá, bụi quá, ngột ngạt quá… Thỉnh thoảng tôi lại vác balô đi du lịch, đến nơi nào cũng khen đẹp quá, thơ mộng quá, yên tĩnh quá…, rồi tôi trở lại sống ở Sài Gòn, cơm áo gạo tiền tôi kiếm được từ  Sài Gòn, nhưng chưa bao giờ nhận lại được của tôi một lời khen, ngoại trừ hiếm hoi khi ở tuổi 18 tôi mê những con đường lá me bay của Sài Gòn,vậy thôi. Đến khi đọc một đoản văn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tôi nhận ra mình là kẻ bội bạc đó. Tôi đã sống cả đời ở đây, nhưng lúc nào cũng mong ngóng về một nơi khác, tôi ăn cơm, uống nước của Sài Gòn, tôi làm ra tiền ở Sài Gòn, một đời sống ở Sài Gòn tôi đã dành dụm được để mua một căn nhà ở… Đà Lạt, và từ đó tôi càng bội bạc dữ, tôi sống ở Đà Lạt trung bình 5 ngày trong 1 tháng, 25 ngày còn lại tôi sống ở Sài Gòn, nhưng lúc nào cũng mong ngóng đến ngày chạy lên Đà Lạt, ở đây tôi làm vườn, nhổ cỏ, tưới cây, trồng hoa, hái dâu tằm, hái cà phê… và tôi đã từng hài lòng tự nhủ là cứ khi nào lên đến Đà Lạt tôi quên hẳn Sài Gòn tất bật. Đọc Nguyễn Ngọc Tư, tôi ngộ ra tôi là kẻ bạc tình, Sài Gòn như người vợ cũ xưa, nhẫn nhịn cơm bưng nước rót cho tôi, ngày nào tôi cũng về ăn cơm uống nước, nhưng tâm tưởng thì mơ về nơi khác. Vậy mà Sài Gòn vẫn cưu mang tôi, không giận dỗi, mưa rồi lại nắng, Sài Gòn chẳng giận ai lâu. Nhưng buổi chiều đứng trú mưa ấy, nhìn Sài Gòn tôi biết, tôi còn nợ Sài Gòn một lời xin lỗi!

Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

CHUYỆN TÌNH VĂN KHOA NGÀY ẤY - BÂY GIỜ

CHUYỆN TÌNH VĂN KHOA NGÀY ẤY – BÂY GIỜ

 

          Từ ngày có Góc nhỏ Văn Khoa, buổi đầu người mùa thu cho nghe  Hỡi người tình Văn Khoa… sao mà tha thiết quá, đến giờ được Gió heo may dẫn về Hôm nay về Văn Khoa, lá me xưa đã già…, lá hoa giờ rã cánh, theo cuộc tình bay qua…, tự dưng xao xuyến nhớ đến những chuyện tình Văn Khoa. Nhớ lại một thời nhiều gian khổ, sau năm 1968, chiến tranh hiện diện từng góc phố Sài Gòn, nói như Eric Remarque “tình yêu trong chiến tranh là bắt đầu cuộc tán tỉnh không có tương lai”. Nhưng ở Văn Khoa thời đó, tình yêu vẫn nở hoa. Có những mối tình kết thúc có hậu, tay trong tay đến gần 40 năm sau, nhưng cũng có những chuyện tình ngậm ngùi đi qua năm tháng chiến tranh đó. Nhưng dù thành hay không, chuyện tình Văn Khoa vẫn đẹp như trong tiểu thuyết. Có một chuyện được lưu truyền trong anh em phong trào, nghe thật ngậm ngùi và tha thiết. Tạm gọi là chuyện tình với những bài thơ.

 

Bài thơ thứ nhất: Bài thơ viết sau lưng tờ lịch

Bắt đầu câu chuyện là một việc không hề lãng mạn, thậm chí còn mang tính “chính trị”! Đó là năm 1972, khi chính quyền Việt Nam cộng hòa hạ tuổi quân dịch xuống 1 tuổi để tổng động viên, các nam sinh viên trở tay không kịp, lần lượt bị đưa lên quân trường, phong trào SVHS Sài Gòn xao xác vì anh em phong trào cũng bị đi quân trường khá nhiều. Trong số những biện pháp đưa ra để anh em bỏ ngũ trở về có một việc là nhờ các cô sinh viên Văn Khoa viết thư gởi đến quân trường, những lá thư nói về bạn bè, trường học, về cha mẹ, gia đình, nhắc đến quê nhà…những lá thư góp phần thôi thúc các anh tìm cách rời bỏ quân trường. Trong số những người viết thư có một nhà thơ, vô tình làm sao một lá thư của cô lại đến tay người nhận cũng là một nhà thơ, người khá nổi tiếng với bài thơ viết về các bà mẹ, các em gái Sài Gòn mà một nhạc sĩ sinh viên đã phổ nhạc và bài hát trở thành một trong những bài hát nổi tiếng của phong trào SVHS. Nhà thơ viết thư chắc đầy cảm xúc, mà nhà thơ đọc thư chắc cũng đầy xúc cảm, chỉ biết là sau đó nhà thơ nam đã bỏ ngũ để về một miền quê xa lắc ở miền Trung, bạn bè bặt tin anh từ đấy.

Sau ngày hòa bình được 5 năm, trong một dịp trở lại Sài Gòn, anh đã tìm đến nhà cô ấy, để rồi đứng tần ngần bên hàng rào lá tigôn xanh mướt, khi nghe hàng xóm cho biết “Cô ấy đã lấy chồng, theo chồng về quê ở sông Tiền”. Anh trở lại miền Trung, cuới vợ, sinh con, những năm tháng khó khăn đó anh đã làm đủ thứ việc, làm thầy giáo dạy học, làm nông dân bên miếng vườn nhỏ, làm tiều phu lên núi đốn củi… anh đã làm đủ mọi cách để nuôi sống gia đình nhỏ của mình, và anh vẫn còn làm thơ, rất nhiều bài thơ.

Mười lăm năm sau nữa, trong một lần trở lại Sài Gòn, bạn bè gặp anh mừng rỡ người bạn phương xa, với sự ưu ái của bạn bè, anh có một nguyện vọng: làm sao để gặp lại được người viết bức thư hơn 20 năm trước. Sài Gòn những năm cuối thập niên 90, điều đó không quá khó, độ hơn muơi tin nhắn và các cuộc gọi điện, đã tìm ra cô ấy, may mắn thay, một tuần cô lại có vài buổi lên Sài Gòn dạy học, và hạnh phúc thay hôm đó lại là ngày cô có mặt ở Sài Gòn. Lại một vài tin nhắn nữa đã hẹn được một buổi cơm trưa mừng ngày hội ngộ của những người bạn cũ, một người bạn gái sẽ đưa cô đến, nghe xong cuộc hẹn, anh bồi hồi với tay gỡ tờ lịch trên tường quán cà phê, viết vào phía sau tờ lịch một bài thơ, cũng xin mạn phép được trích đăng ở đây vì bài thơ này có trong tập thơ của anh đã được xuất bản và phát hành trên cả nước.

 

MƯA ĐẦU MÙA

 

Buổi sáng đầu mùa mưa

Cây hồi sinh xanh mướt

Nắng mặt trời chải lược

Hương đất ngọt ngào bay

 

Trong khóm lá vườn cây

Áo thơm mùi trái chín

Nụ cười ai rất mịn

Đậm đà hương sầu riêng

 

Buổi sáng đầu mùa mưa

Trở về qua thành phố

Mát rượi lòng đại lộ

Tình xưa lá me bay

 

Trở về thành phố này

Nhớ bạn bè tranh đấu

Nhớ những đêm không ngủ

Tiếng hát “Dậy mà đi!”

 

Lại về qua trường xưa

Ngỡ ngàng cây đã lớn

Mười mấy năm giữ trọn

Nỗi nhớ thương bạn bè

 

Thư em viết cho anh

Mười năm sau mới hiểu

Khi biết thương cành liễu

Mùa thu đã đi qua

 

Em đã về Tiền Giang

Chút tình xưa ủ kín

Ngày ngày con nước đến

Gởi em lòng phù sa

 

Em về với học trò

Anh cũng về quê xưa

Mỗi năm mang thương nhớ

Gởi theo đầu mùa mưa

 

Buổi hội ngộ bất ngờ đầy cảm động, những người bạn sau 20 năm mới gặp lại nhau. Nhưng rồi cũng phải chia tay, anh gởi cô bài thơ viết sau lưng tờ lịch, cô về lại sông Tiền, anh ngược về đầm Ô Loan, hai gia đình nhỏ ấm yên hạnh phúc, chút kỷ niệm cất sâu vào trong góc nhỏ trái tim…

 

Bài thơ thứ hai: Bài thơ… bị đánh mất

Lại gần mười lăm năm nữa, anh có dịp về thăm bạn bè ở Sài Gòn, lần này đúng ngày 9-1, anh biết thế nào cũng gặp lại cô trong số đông đảo anh chị em về họp mặt, anh đã làm một bài thơ, viết cẩn thận vào một tờ giấy đẹp, cất vào túi áo định sẽ gởi tặng cô. Đêm họp mặt, người là người, đông thế mà anh vẫn tìm ra cô, tay run run cho vào túi áo tìm bài thơ… nhưng không có, bài thơ bị rơi mất tự bao giờ, anh đứng ngơ ngẩn vì làm mất bài thơ, cô ấy cười lặng lẽ, bạn bè anh cười… khoái chí, bởi vì thật tình mà nói, họ có phần ganh tị với anh, cô ấy dù đã lên chức bà nội nhưng vẫn còn sắc nước hương trời, vẫn còn là người đẹp Văn Khoa thuở nào. Nên khi thấy anh có lợi thế nhà thơ, lần nào gặp cô cũng có một bài thơ, các đồng chí bạn có phần ganh tị, và khi thấy bài thơ bị đánh mất thì cười khoan khoái vô cùng. Bài thơ ấy trừ anh ra không ai biết nội dung vì nó rơi mất đâu rồi.

 

Bài thơ thứ ba: Bài thơ chưa có và chuyện cũng chưa xảy ra. Nhưng nếu mươi năm sau anh còn có cơ hội trở lại Sài Gòn. Chắc chắn anh sẽ có một bài thơ và lần này chắc là bài thơ sẽ được giữ rất kỹ!

 

 

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

BÀI THƠ GIÓ... TẶNG

Mở hàng nhà mới của mình bằng... bài thơ Gió tặng.
Trộm vía Gió lấy hên Gió ơi!

THÁNG CHẠP ANH VỀ ĐÀ LẠT

Tháng chạp anh về Đà Lạt
Ngả mình trên dốc hoa vàng
Chút buồn rơi trên ngọn cỏ
Thèm nghe tiếng guốc em vang...

Biết tình không còn đó nữa
Biết người xa mãi... ngút ngàn
Tháng chạp anh về Đà Lạt
Một mình giữa buổi chiều vàng

Nhớ em tóc thề chẻ ngọn
Mắt nhìn biếc mấy ngọn đồi
Ta xa nhau từ dạo ấy
Tóc thề... mắt biếc xa xôi...

Ta xa nhau từ dạo ấy
Buồn vui biết mấy ngả đời
Em và đồi hoa Đà Lạt...
Trở thành nỗi nhớ khôn nguôi...

Ngày mai anh rời Đà Lạt
Ngàn thông thổi rét vào lòng
Ngày mai anh rời Đà Lạt
Buốt lòng !!! Nhỏ có biết không?
Đọc tiếp ...