Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

NGÃ 3 BIÊN VÀ MỘT ÁNH TRĂNG Ở KONTUM

Một đêm nữa ngủ tại Pleiku, phố núi cao, phố núi đầy sương thật nhưng có vẻ chẳng còn trời thấp thật buồn vì quán cà phê cạnh khách sạn karaoke cũng phải đến nửa đêm mới ngưng tiếng hát. Buổi sáng thứ hai ở Pleiku lại khá hấp dẫn với món phở khô Gia Lai, các bà du khách trùm sò này đã tính rất kỹ, không muốn bỏ bữa điểm tâm ở khách sạn nhưng lại cũng muốn thưởng thức món phở khô ngoài phố vì Bếp ấm Bếp vui Thanh Quế đã nếm phở khô của khách sạn trong buổi điểm tâm sáng qua và cho biết không xuất sắc lắm. Do hôm nay chúng tôi sẽ đi một đoạn đường khá dài: Pleiku - Kon Tum 50km và KonTum - Ngả 3 Đông Dương gần 100km, nên đã chọn ăn sáng món bánh mì trứng gà ốp-la để mang theo dọc đường, sau đó theo bạn lái xe đến một chỗ bán phở khô trong một hẻm nhỏ. Món phở khô thoạt nhìn gần giống như món hủ tiếu khô ở Sài Gòn. Nhưng sau khi cẩn thận ngồi trộn các thứ đã được dọn kèm ra với bánh phở, một gắp bánh phở trộn rồi và một thìa nước dùng sẽ cho một hương vị rất riêng và… ngon, thịt bò trong tô nước dùng rất mềm ngọt, tóm lại đầu bếp Thanh Quế tuyên bố sáng mai tui ăn phở khô nữa.



Rời quán lề đường và chào tạm biệt thành phố với những con dốc cao cao đi lên đi xuống. Vì kế hoạch đến tối sẽ về ngủ lại Kon Tum để hôm sau đi Măng Đen, nên cũng khá nhẩn nha, ghé mua cà phê mang theo uống dọc đường, đợi khá lâu vì cà phê ở Tây Nguyên này chỉ pha bằng phin, dù là bán cho khách mang theo đi đường.



Phụ nữ uống cà phê sữa đá nên không dám nói là khen có chính xác không nhưng cả 4 bà đều khen cà phê rất ngon, đậm đà, 8 ngàn một ly, một điểm son nữa vì…rẻ.
Bắt đầu rời Pleiku đã 9 giờ, trọng tâm hôm nay là đến cột mốc biên giới, nước ta chỉ có hai tỉnh nằm ở điểm giáp ranh 3 biên giới là Điện Biên và Kon Tum. Ở Điện Biên là bản A Pa Chải của bà con dân tộc Hà Nhì, thuộc xã Xín Mần huyện Mường Nhé (giáp Lào và Trung Quốc). Ở Kon Tum là buôn I ệc của đồng bào dân tộc Ka Dong, thuộc xã Bờ Y huyện Ngọc Hồi (giáp Lào và Campuchia). Có một vấn đề là cậu lái xe người Gia Lai, cửa khẩu Bờ Y thì đã đi rồi nhưng  ngả 3 Đông Dương thì chưa, tôi có tìm trên mạng tuy nhiên không rõ lắm vì mỗi người hướng dẫn một cách, nhưng đường đi trong miệng, nên khi đến thị trấn Plei Kần huyện Ngọc Hồi thì bắt đầu hỏi đường.



Có một điều thú vị, 3 lần hỏi đường đều được chỉ dẫn rất tận tình, nhưng lần nào trước khi chỉ đường cũng đều được hỏi ngược lại, người Kinh thì: “Ủa mà đi lên đó làm gì dzậy?”, người dân tộc thì: “Lên đo lam chi dớ?”. Lần nào cũng ngẩn ra không biết nói sao, bởi vì nghỉ thầm ờ thì tại mình cũng hơi rảnh nên đi, chứ ai người ta cũng đang đầu tắt mặt tối kiếm sống, thành ra cũng không dám trả lời. Đầu tiên là lúc 11.30 ghé vào một quán ven đường, định nghỉ ngơi, đã ăn bánh mì, tráng miệng với 5 ly kem. Tranh thủ hỏi đường, vừa được chỉ đường vừa được báo động: “Hôm nay con đường này đến 2.30 trưa là bị cấm xe đến 9 giờ tối vì đang làm cầu truyền hình Âm vang biên giới, coi chừng đi rồi không ra được phải ở lại đến tối”. Thì ra cùng với 2 điểm cầu khác ở An Giang và Lai Châu, lúc 17 giờ hôm nay 14-12 , tại điểm cầu truyền hình ngã ba Đông Dương, thuộc xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, chương trình “Âm vang biên giới” sẽ khai mạc. Hội ý chớp nhoáng, tất cả đồng ý đã đi đến được gần biên giới rồi thì sẽ đi tiếp, nếu khi quay lại trễ mà bị cấm đường thì ở lại xem văn nghệ, về đến Kon Tum nửa đêm cũng được, phòng khách sạn đã đặt rồi, chỉ liệng túi vô là ngủ thôi. Vậy là ăn nhanh rồi lên đường ngay, đi ngang ngả 3 Ngọc Hồi gặp một sân khấu thật hoành tráng cho buổi tối.


(Ảnh tư liệu)

Tóm tắt các chỉ dẫn lên cột mốc ngả 3 biên như sau: Đi vào thị trấn theo đường thẳng sẽ gặp một ngã tư, là chỗ giao nhau của ba con đường: đường Hồ Chí Minh (tức đường 14, tên cũ là đường 18), đường 14C và đường 40. Đường 40 rẽ ngoặt về hướng Tây đi vào khu vực biên giới, chỗ rẽ ấy chính là ngã ba Đông Dương. Lần thứ 3 hỏi đường được chỉ thêm rất cẩn thận: “Trước khi đến cửa khẩu Bờ Y, bên tay phải có trạm biên phòng, ghé qua đó các anh biên phòng sẽ hướng dẫn cho”.



Đến ngả 4, chạy thẳng đường 40… không thấy trạm biên phòng nào hết, chạy luôn một lúc thấy… cửa khẩu Bờ Y.



Xuống xe gặp hải quan cửa khẩu, hỏi đường lên cột mốc ngả 3 biên, câu đầu tiên được hỏi là: “Các cô có đem theo giấy CMND không ?”. Trả lời có, được hướng dẫn tiếp: “Các cô quay lại đi đến khi nào thấy cây xăng, đối diện là trạm biên phòng, vào đó để các anh ấy hướng dẫn thủ tục”. Lại quay xe ra, lần này đi chầm chậm, đến cây xăng đang ngơ ngác thì thấy bên trái có bản chỉ dẫn trạm biên phòng ở bên trong con đường rẽ vào, nhìn lên hóa ra trạm ở trên một ngọn đồi bên cạnh con đường.



Chạy xe lên trạm, vắng tanh vắng ngắt, nhìn đồng hồ đã 12.20, là giờ nghỉ trưa, tưởng đâu phải đợi đến giờ làm việc, nhưng may có một bạn chó biên phòng thấy động sủa om sòm, một anh bộ đội đi ra, sau khi nghe lý do ghé trạm, anh cũng bèn hỏi câu đầu tiên: “Các cô đi mấy người, có đem theo giấy CMND không ạ?” Trả lời có, và định lục túi lấy giấy tờ ra nhưng anh đã đi thẳng ra cổng, ngó qua cái xe, và hướng dẫn: “Bây giờ cô đi ra cửa khẩu Bờ Y nhé, nói với các anh ngoài đó là đã ghé qua đây và biên phòng đã đồng ý để các cô lên cột mốc rồi. Các anh ấy sẽ chỉ đường đi cho cô nhé.” Mình ngớ ra, hỏi lại:”Thế có giấy tờ gì của các anh để cầm theo không ạ?” “Không sao đâu, cô cứ đến đó và nói thế là được rồi”. Chẳng biết làm sao, đành cám ơn và lại chạy xuống cửa khẩu, gặp lại anh hải quan biên giới, nói y như vậy, lần này anh hỏi lại: “Các anh trên đó đồng ý rồi phải không. Các cô có giấy CMND chứ?” Lại gật đầu và định lôi giấy tờ ra, nhưng anh đã tiếp tục: “Bây giờ cô chạy thẳng vòng qua cạnh cửa khẩu nhé, đến khi gặp một ngả 3 đầu tiên thì rẽ tay trái, sẽ đi ngang một trạm có  barie, báo cho biết cô muốn đi lên cột mốc, người ta sẽ mở barie cho xe cô đi, chạy thẳng đường đó độ 9 km là đến chân đồi có cột mốc”. Sau đó anh lại thêm: “Giờ này buổi trưa, nếu không có ai ở đó thì cô… tự mở barie để đi”. Mình chẳng hiểu sao, thấy chỉ hỏi thôi mà không anh nào buồn xem giấy tờ của mình, bèn nghĩ hay là tại cái mặt bầy tui… quá lương thiện! Đến ngả ba biết là đã đúng đường nhưng vẫn cẩn thận dừng xe hỏi một anh người dân tộc đang đi, anh gật đầu chỉ quẹo tay trái và nói thêm là đi 1 cây số nữa là đến. Lại thắc mắc, biên phòng nói đi 9 cây số nữa, anh dân tộc nói 1 cây. Nhưng thôi đúng đường thì cứ đi, đường tốt và khá đẹp, cỏ lau trắng và cỏ đuôi chồn hồng hai bên ven đường.









Nhưng đi cũng khá lâu, lại bàn tán với nhau, cây số của anh người dân tộc Ka Dong  chắc phải khác cây số của bộ đội biên phòng, đi mãi đến khi đường nhựa thành đường đất thì có 1 cột cây số bên đường ghi 1km. Vậy là anh Ka Dong nói cũng đúng, có 1 cột cây số duy nhất ghi vậy thì anh nói vậy thôi.







Đã đến chân cầu thang đá dẫn lên cột mốc.



Nhìn tấm bảng ghi độ cao ngọn đồi là 1.086m rồi nhìn các bậc thang dẫn lên đồi và nhìn nhau, leo đồi đang buổi ban trưa, chị Quế tuyên bố tui sẽ đi lên, chừng nào đi không nổi tui sẽ nghỉ.



Dĩ nhiên đến đây rồi thì phải leo thôi, cũng hơi ngán vì đi lên chỉ thấy những khúc ngoặt trước mặt mà không biết còn bao nhiêu bậc thang nữa, nhớ hồi leo núi Ba Vì có 500 m cuối mà đã đến 1.000 bậc thang.



Nhưng chỉ phải qua 3 khúc ngoặc thôi đã nghe cậu lái xe reo lên phía trên, sắp đến rồi các cô ơi.



Ái chà, chắc chỉ hơn 100 bậc thang, hóa ra độ cao ghi trên bảng là so với… mặt nước biển, leo lên không mệt lắm, nhưng cảm giác khi nhìn thấy cột mốc trên đỉnh đồi thật tuyệt vời.



Cột mốc nặng 900 kg , làm bằng đá hoa cương hình trụ tam giác, cao 2 mét, trên mỗi mặt cột mốc quay về mỗi nước được gắn quốc huy, năm cắm mốc và tên quốc gia đó  bằng chữ của chính nước đó.



Nhặt được một ngọn lau, cầm lên chụp hình với cột mốc trong cảm giác thật trẻ thơ khi nhớ về một thời Đinh Bộ Lĩnh với cờ lau tập trận.



Chẳng có con gà nào ở đây nhưng đúng là nếu như có một con gà trống đứng đây gáy thì cả 3 nước đều nghe, vì bước xuống bậc thang là ranh giới ngay.









Không có bóng cây trên đỉnh đồi này, lộng gió nhưng nắng chói chang, chắc vậy nên cả 3 bên đều bắt đầu trồng cây, cây còn nhỏ xíu chỉ thấy các bảng tên, cây bên nước nào bảng tên bằng chữ nước đó. Phía Việt Nam có một cây chuổi ngọc đã bắt đầu có hoa nhưng được bó chặt lại có lẽ vì sợ gió thổi ngã. Ngọn đồi này có tên là Đồi Tròn cách đường tuần tra biên giới của bộ đội biên phòng không xa, nhìn những bông hoa hiếm hoi trên đỉnh đồi nhớ bài hát mà cậu lái xe đã cho nghe suốt từ khi ở cửa khẩu vào:… Phía sau chùm hoa ấy là dấu chân lặng thầm cỏ mùa này non vậy mà đất nóng âm âm... Phía sau chùm hoa ấy mũi súng canh đường biên chiến sĩ mình trẻ quá đang bám trụ ngày đêm…



Đi xuống các bậc thang, nhìn núi đồi hùng vĩ chung quanh, bước chân lâng lâng.



Xe chạy về quá ngả tư một chút thì bị chặn lại, anh cảnh sát giao thông nói rất dễ thương: “Đường này không đi được vì đang chuẩn bị cầu truyền hình, bây giờ xe quay lại đi đường Hồ Chí Minh vòng ra, đi đường đó đẹp hơn đường này”. Quả nhiên nhờ bị cấm đường mà đi được một đoạn đường thênh thang rất đẹp, đường rộng 6 làn xe, mà rất ít xe nên dân tận dụng để … phơi sắn.







Về đến Kon Tum đã 4 giờ chiều, lúc đó mới nhớ ra là chưa…ăn trưa. Ăn xong ghé nhà thờ chính tòa, nhưng sẽ kể trong một dịp khác khi nói về nhà thờ ở Kontum và chùa ở Pleiku vì các nhà thờ và chùa ở đây đều rất đẹp. Kết thúc một ngày đường, về khách sạn, cũng đặt trước qua online, thấy trên ảnh khá đẹp, kiểu resort, giá lại khá mềm, 240 ngàn một ngày phòng 2 người, lại gần cầu treo Kon Klor, gần sông Đăk Bla, mặc dù hơi xa phố chính.







Khách sạn thật bên ngoài muốn đẹp hơn trong ảnh, nên khi vừa nhận phòng xong, lát sau bước ra sân thấy mặt trăng thấp thoáng sau mấy ngọn tre, chị Quế đã quyết định ngay là sẽ ở lại Kon Tum 2 đêm thay vì một như kế hoạch và sẽ đi thẳng ra sân bay Pleiku khi đến ngày về. Tôi đi dạo dạo một vòng bên ngoài, hóa ra khách sạn nằm giữa thôn Kon Klor của người BaNa, đến phiên tôi cũng muốn ở lại. Vậy là tối đó cả nhóm sau khi lang thang phố chính của Kon Tum đã quyết định thay vì ngày mốt  về Pleiku, vì như chương trình đã định Pleiku 2 ngày và Kon Tum 2 ngày, sẽ ở lại Kon Tum thêm ngày cuối và chỉ về Pleiku để ra sân bay. Không ngờ đó là một ngẫu hứng hết sức đúng, vì cả 3 ngày ở Kon Tum đều rất hay. Ánh trăng suông đã níu lại chân người.


(Ảnh Nguyễn Thanh Quế)
Đọc tiếp ...

CUỐI THU Ở NƠI BUỔI CHIỀU QUANH NĂM MÙA ĐÔNG

Chúng tôi rời Sài Gòn khi mặt trời vẫn còn trên cánh máy bay, nắng cuối ngày vẫn còn trên những đám mây.





Nhưng đến Pleiku thì trời đã tối, se se lạnh, cô nhân viên ở cái phi trường nhỏ xíu này xởi lởi: "Các cô thật may, cách đây 2 ngày trời lạnh lắm, hôm nay ấm rồi". Chỉ tội bọn tôi, bà nào cũng vác theo nào áo nào khăn nào mũ vì sợ lạnh. Pleiku ban đêm cũng lấp lánh đèn như Sài Gòn, vì ngồi trong xe và máy ảnh nhỏ nên chụp cái nào nhìn ra cũng thấy chán, xin mượn một tấm ảnh của UBND thành phố Pleiku đưa lên để giới thiệu.


(Ảnh tư liệu)

Tôi chưa đến Gialai lần nào, đã 2 lần chưa có duyên, đến Buôn Mê Thuột rồi phải quay về, một lần vì bão đến và một lần cơ quan có việc gấp đột xuất, nên lần này rủ rê được mấy bà bạn nhất định phải đi cho biết một nơi có hai bài hát được viết riêng và đều rất nổi tiếng. Chúng tôi, những người đàn bà hơi khó tính, không thích đi với tour du lịch vì không tự do, nhưng cũng không dám thuê xe gắn máy như các bạn trẻ, và cũng không đủ xu để yêu cầu công ty du lịch làm tour riêng theo ý mình. Vì vậy đi theo kiểu của mình, thuê xe tại địa phương để cậu lái xe mặc nhiên cũng là hướng dẫn viên rất tốt, đi nơi nào muốn đi và dọc đường ngừng chỗ nào mình thích. Nhưng vì phải thuê một cái xe 7 chỗ suốt 5 ngày hành trình nên bắt buộc phải tiết kiệm chuyện khác. Thuê khách sạn 2 sao thôi, lò dò trên mạng, kiếm được khách sạn Sê San, mà ở cái xứ này, khách sạn 2 sao cũng to đùng, giá lại rẽ, ở ngay trung tâm thành phố, có thang máy, phòng rộng rãi 2 giường, đủ máy lạnh, nước nóng, tủ lạnh, truyền hình cáp, chỉ 320 ngàn phòng 2 người, luôn cả ăn sáng. Buổi sáng đến phòng ăn, có 3 món để chọn 1, trên menu thấy ghi giá cho khách vãng lai 35 ngàn một suất ăn sáng. Ơ, vậy là trừ tiền của 2 phiếu ăn sáng tiền phòng chỉ còn 250 ngàn/ngày, mà ăn sáng bánh mì bò kho với uống sữa đậu nành cũng ngon, thật tuyệt cho các bà trùm sò chúng tôi.


(Ảnh tư liệu)

Buổi sáng hôm sau, trời nắng đẹp, trời chỉ hơi se se lạnh, lên đường đi nhà máy thủy điện Yaly trên sông Sê San, một trong những công trình thủy điện lớn của Việt Nam, cách Pleiku khoảng 40 km.



Cảnh trên đường đi  hùng vĩ núi rừng Tây Nguyên, đôi lúc mềm lại bởi những đốm lá vàng cuối mùa thu.







Cũng như thủy điện Hòa Bình, phần lớn các hạng mục của nhà máy Thủy điện Yaly được xây dựng ngầm trong lòng núi. Thủy điện Yaly được khởi công xây dựng năm 1993 và hoàn thành vào năm 2003. Hai nhà máy thủy điện khác cũng đã được xây dựng trên dòng Sê San là Nhà máy thủy điện Sê San 3, được khởi công vào năm 2002, và nhà máy thủy điện Pleikrông, khởi công vào năm 2003. Tổng công suất cả 3 nhà máy là 1080MW, sản lượng điện bình quân 5 tỷ 310 triệu KWh/năm.





Khi xây dựng nhà máy đã có những người đã hy sinh vì tai nạn lao động, một gian nhà thờ được xây với kiểu dáng nhà rông Tây Nguyên và chữ Y trên đỉnh, chúng tôi đã ghé qua để lên viếng các anh trước khi đi thăm nhà máy.





Đi ngang nơi mà ảnh tôi chụp là khi không xả lũ, xin thêm một ảnh đang xả lũ rất đẹp của nhà máy để giới thiệu.




(Ảnh tư liệu)

Để đi đến nơi các cỗ máy hoạt động, chúng tôi đi vào một đường hầm dài khoảng 300m.





Ngoài tiềm năng về sản xuất điện, công trình thủy điện Yaly còn tạo nên một hồ nước rộng lớn trong xanh nằm giữa núi rừng Tây Nguyên với diện tích bề mặt hồ 64,5km2 và dung tích 1,03 tỷ m3.



Đây cũng là nơi những người đàn bà chúng tôi có dịp điệu đàng với trời nắng trong xanh và gió hồ thổi lồng lộng.









Trên đường về chộp được những cây hoa khá lạ của các bụi cây như dứa dại.



Cỏ đuôi chồn trên núi Tây Nguyên cũng to và đẹp lạ.



Ghé ăn trưa theo giới thiệu của bạn lái xe, quán nhỏ gia đình, nhưng rất sạch sẽ, nấu ăn rất nhanh, rất vừa miệng và…khá rẽ, một dĩa chả giò khoảng 20 chiếc, một dĩa gỏi da cá lạ miệng và rất ngon, một nồi lẫu bò đầy tú ụ. Bếp ấm Bếp vui Thanh Quế hài lòng về món ăn, còn tôi là thủ quỹ của nhóm cũng hài lòng luôn với giá cả, 5 người ăn 3 món rất no mà chỉ phải trả 225 ngàn. Một bữa ăn làm các bà lão đi chơi theo tiêu chí ngon bổ rẽ hết sức hài lòng.



Chiều xuống khi về đến Biển Hồ, trên đường đi có những cánh đồng cỏ hồng trong gió đong đưa mềm như lụa.



Ghé hàng thông trăm tuổi ở biển hồ Trà trước.



Những cánh đồng trà ở đây mênh mông như biển.



Tình cờ gặp một đồng cỏ dại thật đẹp.



Trên đường đi vòng quanh Biển Hồ, thoạt tiên tôi thảng thốt, bởi vì tưởng cả một cánh rừng thông mênh mông quanh hồ bị chết khô vì chẳng thấy lá xanh trên cây, toàn một màu nâu vàng, hóa ra thông ở đây thay lá khi mùa thu đến, nhìn kỹ thấy các chồi xanh bắt đầu xuất hiện trên cây. May mà hai hàng thông trên con đường dẫn vào giữa hồ có nhiều lá xanh hơn nên chúng tôi vẫn nhìn được một con đường thông thật hay.



Đến khi ra ven hồ nhìn từ bên này qua bên kia hồ thì những đám thông khô rụng lá trở thành một bức tranh mùa thu xa xa tuyệt đẹp.







Ven hồ bên này với những bụi cây lá đỏ.





Chỉ còn một vài bông dã quỳ bên hồ.



Có một chiếc thuyền cũ nằm lặng lẽ bên hồ.



Tôi xuống ven hồ, như muốn được đặt chân vào một bức tranh cuối mùa thu.




Em đẹp thế Pleiku ơi, trái tim tôi muốn vỡ tan rồi…
Đọc tiếp ...