Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

CUỐI THU Ở NƠI BUỔI CHIỀU QUANH NĂM MÙA ĐÔNG

Chúng tôi rời Sài Gòn khi mặt trời vẫn còn trên cánh máy bay, nắng cuối ngày vẫn còn trên những đám mây.





Nhưng đến Pleiku thì trời đã tối, se se lạnh, cô nhân viên ở cái phi trường nhỏ xíu này xởi lởi: "Các cô thật may, cách đây 2 ngày trời lạnh lắm, hôm nay ấm rồi". Chỉ tội bọn tôi, bà nào cũng vác theo nào áo nào khăn nào mũ vì sợ lạnh. Pleiku ban đêm cũng lấp lánh đèn như Sài Gòn, vì ngồi trong xe và máy ảnh nhỏ nên chụp cái nào nhìn ra cũng thấy chán, xin mượn một tấm ảnh của UBND thành phố Pleiku đưa lên để giới thiệu.


(Ảnh tư liệu)

Tôi chưa đến Gialai lần nào, đã 2 lần chưa có duyên, đến Buôn Mê Thuột rồi phải quay về, một lần vì bão đến và một lần cơ quan có việc gấp đột xuất, nên lần này rủ rê được mấy bà bạn nhất định phải đi cho biết một nơi có hai bài hát được viết riêng và đều rất nổi tiếng. Chúng tôi, những người đàn bà hơi khó tính, không thích đi với tour du lịch vì không tự do, nhưng cũng không dám thuê xe gắn máy như các bạn trẻ, và cũng không đủ xu để yêu cầu công ty du lịch làm tour riêng theo ý mình. Vì vậy đi theo kiểu của mình, thuê xe tại địa phương để cậu lái xe mặc nhiên cũng là hướng dẫn viên rất tốt, đi nơi nào muốn đi và dọc đường ngừng chỗ nào mình thích. Nhưng vì phải thuê một cái xe 7 chỗ suốt 5 ngày hành trình nên bắt buộc phải tiết kiệm chuyện khác. Thuê khách sạn 2 sao thôi, lò dò trên mạng, kiếm được khách sạn Sê San, mà ở cái xứ này, khách sạn 2 sao cũng to đùng, giá lại rẽ, ở ngay trung tâm thành phố, có thang máy, phòng rộng rãi 2 giường, đủ máy lạnh, nước nóng, tủ lạnh, truyền hình cáp, chỉ 320 ngàn phòng 2 người, luôn cả ăn sáng. Buổi sáng đến phòng ăn, có 3 món để chọn 1, trên menu thấy ghi giá cho khách vãng lai 35 ngàn một suất ăn sáng. Ơ, vậy là trừ tiền của 2 phiếu ăn sáng tiền phòng chỉ còn 250 ngàn/ngày, mà ăn sáng bánh mì bò kho với uống sữa đậu nành cũng ngon, thật tuyệt cho các bà trùm sò chúng tôi.


(Ảnh tư liệu)

Buổi sáng hôm sau, trời nắng đẹp, trời chỉ hơi se se lạnh, lên đường đi nhà máy thủy điện Yaly trên sông Sê San, một trong những công trình thủy điện lớn của Việt Nam, cách Pleiku khoảng 40 km.



Cảnh trên đường đi  hùng vĩ núi rừng Tây Nguyên, đôi lúc mềm lại bởi những đốm lá vàng cuối mùa thu.







Cũng như thủy điện Hòa Bình, phần lớn các hạng mục của nhà máy Thủy điện Yaly được xây dựng ngầm trong lòng núi. Thủy điện Yaly được khởi công xây dựng năm 1993 và hoàn thành vào năm 2003. Hai nhà máy thủy điện khác cũng đã được xây dựng trên dòng Sê San là Nhà máy thủy điện Sê San 3, được khởi công vào năm 2002, và nhà máy thủy điện Pleikrông, khởi công vào năm 2003. Tổng công suất cả 3 nhà máy là 1080MW, sản lượng điện bình quân 5 tỷ 310 triệu KWh/năm.





Khi xây dựng nhà máy đã có những người đã hy sinh vì tai nạn lao động, một gian nhà thờ được xây với kiểu dáng nhà rông Tây Nguyên và chữ Y trên đỉnh, chúng tôi đã ghé qua để lên viếng các anh trước khi đi thăm nhà máy.





Đi ngang nơi mà ảnh tôi chụp là khi không xả lũ, xin thêm một ảnh đang xả lũ rất đẹp của nhà máy để giới thiệu.




(Ảnh tư liệu)

Để đi đến nơi các cỗ máy hoạt động, chúng tôi đi vào một đường hầm dài khoảng 300m.





Ngoài tiềm năng về sản xuất điện, công trình thủy điện Yaly còn tạo nên một hồ nước rộng lớn trong xanh nằm giữa núi rừng Tây Nguyên với diện tích bề mặt hồ 64,5km2 và dung tích 1,03 tỷ m3.



Đây cũng là nơi những người đàn bà chúng tôi có dịp điệu đàng với trời nắng trong xanh và gió hồ thổi lồng lộng.









Trên đường về chộp được những cây hoa khá lạ của các bụi cây như dứa dại.



Cỏ đuôi chồn trên núi Tây Nguyên cũng to và đẹp lạ.



Ghé ăn trưa theo giới thiệu của bạn lái xe, quán nhỏ gia đình, nhưng rất sạch sẽ, nấu ăn rất nhanh, rất vừa miệng và…khá rẽ, một dĩa chả giò khoảng 20 chiếc, một dĩa gỏi da cá lạ miệng và rất ngon, một nồi lẫu bò đầy tú ụ. Bếp ấm Bếp vui Thanh Quế hài lòng về món ăn, còn tôi là thủ quỹ của nhóm cũng hài lòng luôn với giá cả, 5 người ăn 3 món rất no mà chỉ phải trả 225 ngàn. Một bữa ăn làm các bà lão đi chơi theo tiêu chí ngon bổ rẽ hết sức hài lòng.



Chiều xuống khi về đến Biển Hồ, trên đường đi có những cánh đồng cỏ hồng trong gió đong đưa mềm như lụa.



Ghé hàng thông trăm tuổi ở biển hồ Trà trước.



Những cánh đồng trà ở đây mênh mông như biển.



Tình cờ gặp một đồng cỏ dại thật đẹp.



Trên đường đi vòng quanh Biển Hồ, thoạt tiên tôi thảng thốt, bởi vì tưởng cả một cánh rừng thông mênh mông quanh hồ bị chết khô vì chẳng thấy lá xanh trên cây, toàn một màu nâu vàng, hóa ra thông ở đây thay lá khi mùa thu đến, nhìn kỹ thấy các chồi xanh bắt đầu xuất hiện trên cây. May mà hai hàng thông trên con đường dẫn vào giữa hồ có nhiều lá xanh hơn nên chúng tôi vẫn nhìn được một con đường thông thật hay.



Đến khi ra ven hồ nhìn từ bên này qua bên kia hồ thì những đám thông khô rụng lá trở thành một bức tranh mùa thu xa xa tuyệt đẹp.







Ven hồ bên này với những bụi cây lá đỏ.





Chỉ còn một vài bông dã quỳ bên hồ.



Có một chiếc thuyền cũ nằm lặng lẽ bên hồ.



Tôi xuống ven hồ, như muốn được đặt chân vào một bức tranh cuối mùa thu.




Em đẹp thế Pleiku ơi, trái tim tôi muốn vỡ tan rồi…
Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

HÀ NỘI MÙA NÀY...

Những năm gần đây thi thoảng tôi lại ra Hà Nội, có khi như là trạm trung chuyển, ra đến ngủ lại một tối, hôm sau đã xách túi đi đâu đó, khi quay trở lại có khi chỉ còn kịp giờ ra sân bay, chẳng kịp nhìn Hà Nội ra sao. Nhưng cũng vài lần có dịp ở lại dăm  ngày, thường gặp đúng mùa thu, tôi cứ hay đi tìm một điều mà bây giờ tôi vẫn cứ đang rất mù mờ, đó là lá vàng của cây cơm nguội trong…Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, câybàng lá đỏ, nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu…Năm ngoái tháng 9 đầu mùa thu, tôi có vài ngày loanh quanh Hà Nội, đã ghi lại trong  LANG THANG HÀ NỘI  http://minhannguyen.blogspot.com/2012/09/lang-thang-ha-noi.html. Cố tìm ra màu lá vàng của loại cây sếu này (một tên khác của cây cơm nguội), đã đi qua trục đường lớn như Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Lý Thường Kiệt, TrầnKhánh Dư..., xuống cuối đường Yên Phụ -Nghi Tàm( theo như lời hướng dẫn của nhân viên ks) vẫn thấy một màu xanh đủ loại cây và chẳng biết cây nào là cây cơm nguội, chỉ thỉnh thoảng đang đi lang thang nghe gió đưa mùa hoa sữa thì biết đang là mùa thu, còn cây cơm nguội cứ mù mờ. Cuối cùng phục ở hồ Gươm, nơi vẫn thấy trên các tấm ảnh cây cơm nguội mùa thu tuyệt đẹp, nhưng ven hồ chỉ một màu xanh, nghĩ là mới đầu mùa thu, cây cơm nguội chưa vàng, lá cây bàng chưa đỏ.

 

Sang tháng 10 đi Mã Pí Lèng, buổi chiều trở về Sài Gòn, trước khi ra sân bay tạt qua Hà Nội, chạy ra hồ Gươm, vẫn một màu xanh.



Tháng 11 năm nay, ở lại Hà Nội vài ngày, ra hồ Gươm lá cây vẫn xanh ngăn ngắt.



Chẳng lẽ bắt chước một nhạc sĩ hỏi ai mang mùa thu của tôi đi đâu?
Thôi thì không tìm ra mùa thu Hà Nội của văn nghệ sĩ, thử hình dung mùa thu theo cách của mình vậy, mùa thu Hà Nội với bầu trời không nắng luôn lãng đãng một màu khói,



những cành phượng lá xanh thắm như màn che làm dịu màu đỏ nhức mắt của cầu Thê Húc,



mùa thu về trên bình hoa hồng vàng trong khách sạn,



những bông hoa mua từ gánh hàng hoa trên một trong những chiếc xe đạp chở mùa thu đi rong.



Mùa thu trong sắc hoa tigôn lặng lẽ trên mái ngói thâm nâu ở Đường Lâm, lặng lẽ đến cánh bướm nằm im chẳng chịu bay.





Mùa thu soi bóng trên con kênh nhỏ ngoài thành cổ Sơn Tây.



Mỗi lần được ở lại Hà Nội ít lâu, tôi đều đến Văn Miếu lạy chào cụ Chu Văn An, mình đi dạy học, cụ như là cụ tổ nghề của mình. Lần này về Văn Miếu, tình cờ gặp một việc  đã thay đổi một trong những suy nghĩ của tôi. Hôm đó Văn Miếu vui lắm, các cô cậu cử nhân mới toanh đang chụp hình trong Văn Miếu, bỏ chiếc áo thụng ra các cô cử đồng loạt mặc áo dài.





Nhưng như một bà già khó tính, tôi không thích lắm những chiếc quần đỏ, những tay áo dài mà ngắn dần lên, thậm chí ngắn như tay áo cánh. Tôi là người cổ nên ưa cảnh xưa, năm ngoái tình cờ gặp các cô dâu Hà Nội đi chụp ảnh cưới ở bờ hồ với áo lụa trắng, quần đen, tóc bới kiểu xưa, tôi cứ suýt soa mãi và tự bảo đây mới là thanh lịch đất Tràng An.





Thành ra không lạ gì khi tôi dị ứng với các áo dài kiểu mới thế này. Nhưng khi đứng chụp ké tấm ảnh  sau đây thì tự nhiên tôi nghĩ lại.



Tôi là người cao tuổi, từ giờ trở đi cũng chẳng làm đuợc gì nhiều cho xã hội, chính các cô cậu trong tấm hình này là những người sẽ làm nên tương lai đất nước chứ không phải tôi. Và cái áo dài mà tôi dị ứng, họ đồng loạt mặc chứ không phải chỉ một vài người, nghĩa là đó là xu hướng thời trang, rồi tôi cũng nhớ lại mình thời trẻ, khi đó có phong trào mặc áo dài không chít ben ở eo và vạt thì ngắn gần đến đầu gối, thì bà tổng giám thị trường tôi học sáng nào cũng cầm một cây thước to đùng đứng ở cổng, áo dài bạn nào ngắn qua gối là bị khẻ thước vào đầu gối, bọn tôi chùm nhum với nhau đi qua cổng, mấy áo dài ngắn nhất đi vào giữa, bà giám thị vừa lo kiểm tra xem có phù hiệu trên áo, vừa kiểm áo dài ngắn nên thế nào cũng có bạn thoát nạn. Vậy là thời nào cũng có một bà già xưa khó tánh như thế, và hôm nay tôi chính là bà già đó. Nghĩ vậy tự nhiên đâm ra tôi hết thành kiến với các bộ áo dài quần đỏ này nữa.
Tâm trạng đó theo tôi đến làng Đường Lâm, lần này về Đường Lâm tôi không kêu lên khi thấy có thêm nhà xây kiểu mới nữa. Ngôi làng này gần đây đã xin được từ chối danh hiệu Di sản văn hóa Quốc gia. Sự chờ đợi quy hoạch của nhà nước đã kéo dài quá lâu, người làng đã trẻ hóa dần, hàng nước trước đình Mông Phụ  thấy một cô gái trẻ ngồi thay chỗ của bà cụ vẫn ngồi bán ở hàng nước này từ trước.



Không lạ gì khi thế hệ mới trong làng cổ bắt đầu lên tiếng. Trước đây tôi cũng như mọi du khách khác, đến đây và thích thú ngắm nhìn những gì cũ xưa của ngôi làng cổ này để rồi sau đó khi rời đi lại trở về với những tiện nghi đời thường của mình. Ngay như tôi chẳng hạn, ra Hà Nội thường  chọn khách sạn ở phố cổ, loanh quanh ở Nguyễn Hữu Huân, hoặc Hàng Mắm, hoặc Lương Ngọc Quyến v.v… vì từ đây bán kính đến Hồ Gươm, chợ  Đồng Xuân, bến xe bus Long Biên, ga hàng Cỏ… đều trên dưới 1 km, giá cả khá mềm. Nhưng dù là khách sạn ở phố cổ tôi cũng tìm phòng phải có máy điều hòa không khí, có nước nóng, có tủ lạnh, máy sấy … Vậy mà tôi cũng như một số người khác, lại muốn Đường Lâm cứ mãi thế này khi sự hỗ trợ của chính quyền trước việc xuống cấp lại rất chậm chạp.





Và người dân phải sống ở đây suốt đời trong khi tôi - một du khách –trong số rất nhiều du khách cả đời đến đây nhiều lắm là đôi lần chỉ để thỏa mắt nhìn. Đứng ở Đường Lâm lần này tôi mong sao Dự án Quy hoạch làng cổ nhanh chóng thực hiện.



Đừng để người dân phải kêu:“Hỏi các ông chờ đến bao giờ chứ. Chờ cả đời à. Phải có mốc để chúng tôi có tương lai mà chờ chứ.”  Thật buồn khi đã là Di sản Văn hóa mà dân cứ một mực đòi trả lại danh hiệu.
Đọc tiếp ...