Hội ngộ dã quỳ chỉ có 3 ngày, chúng tôi đến quán cà phê sách Hoa violet ngày thứ tư những hai lần. Đó là một trong những ngôi biệt thự xưa kiểu Pháp nằm trên đường Trần Hưng Đạo, có một khung cửa sổ với dây leo xanh mà ai cũng muốn ghé vào để chụp ảnh. ( Nhưng tấm ảnh đẹp nhất đã được chụp ở đây có lẽ là ảnh Quỳnh Trang trong entry John vàng và áo hồng cánh sen ở nhà Chuột siu quậy).
Photo by Minhtmap
Có một chiếc xích đu xinh xắn mà ngay lúc này bụi dã quỳ phía sau đã làm cái góc đó không thể nào hoàn hảo hơn được.
Photo by GM
Có những kệ sách rải rác trong phòng uống cà phê
Photo by GM
Trước khi đi đến đó một người bạn trong đoàn đã hỏi tôi về tên của quán, tôi đã láu táu giải thích đó là tên một truyện ngắn lãng mạn của tác giả người Pháp ANDRÉ MAUROIS. Và tôi đã nhanh nhẩu kể tóm tắt truyện ngắn đó trong vòng 5 phút trong lúc xe đưa chúng tôi đi một vòng quanh hồ Xuân Hương:
Có một anh lính say mê một cô ca sĩ nổi tiếng, chiều thứ tư nào anh cũng mang đến nhà hát tặng cô một bó hoa violet, nhưng chẳng bao giờ đến gần được vì có rất nhiều người giàu có vây quanh nàng, tuy nhiên những bó hoa violet chiều thứ tư đều đặn cũng làm cô để ý dù chỉ thoáng qua, cho đến một ngày cô chợt nhận ra không có hoa violet cho mỗi chiều thứ tư nữa, nhưng chỉ ưu tư thoáng chốc rồi cô cũng quên đi vì quanh cô lúc nào cũng đầy quà tặng. Cho đến một ngày cha của người lính trẻ đến trao lại cho cô nhật ký của anh vì anh đã hy sinh. Cô đọc nhật ký và ân hận vì nỗi vô tình của mình, từ đó cho đến 50 năm sau khi tóc đã bạc phơ mỗi chiều thứ tư cô vẫn mang một bó hoa violet đến mộ anh lính trẻ...
Sau khi dứt lời, tôi nhận ra ngay là tôi đã kịp... giết nhà văn André Maurios một lần nữa! Làm sao mà lại có thể tóm tắt một truyện ngắn hay như thế chỉ trong 5 phút cơ chứ. Tôi tiếc lắm, tôi rất thích truyện ngắn này và trong 5 phút láu táu đó có thể tôi đã làm cho ít nhất 7 độc giả ngồi trên xe thờ ơ với Hoa violet ngày thứ tư vì cái việc tóm gọn rất ư là không lãng mạn như thế.
Trở về Sài Gòn, tôi tìm trên kệ sách, có một cuốn Hoa violet ngày thứ tư, tôi mua từ năm 1999, sách đã ngả vàng, nhưng làm sao khi chỉ một cuốn sách mà có rất nhiều bạn.
Tôi đi tìm trên mạng, và thật là may ! Một bạn đọc tên NGUYỄN YÊN SƠN, có lẽ anh rất mê nhà văn André Maurois, anh đã kiên nhẫn ngồi gõ lại hầu hết các truyện ngắn của nhà văn và đưa lên đường link:
vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=486559
để mọi người có thể đọc.
Nhưng tôi vẫn muốn giới thiệu cho các bạn tôi truyện ngắn này nên rất cám ơn và xin phép anh Nguyễn Yên Sơn cho tôi mang về nhà tôi.
Photo by Trần Đức Tài
Nếu sau entry này mà các bạn vẫn thấy thích thì xin mời đọc Hoa violet ngày thứ tư tôi đã để sẵn trong nhà tôi.
Năm 1975, tôi có hai năm học bổ túc dành cho tất cả những ai đã học các môn Khoa học Xã hội và tôi ra trường Sư phạm năm 1977, thời gian chờ quyết định nhận nhiệm sở là lúc lớp tôi liên tục tổ chức tiệc chia tay… Sài Gòn. Hôm thì nhà đứa này nấu cháo huyết, hôm thì nhà đứa kia chiên bánh cay…, bởi vì theo như những lời đồn thổi thì sẽ có 80% giáo sinh ra trường về các tỉnh phía Nam nhận nhiệm sở. Riêng tôi thì gia đình cũng chuẩn bị tư tưởng cho tôi khá kỹ về chuyện đi dạy học xa nhà, ba tôi mua cho tôi một bộ tiểu thuyết Xa Mạc-Tư-Khoa khổ 20x12 dầy cộp, má tôi soạn đi soạn lại những đồ đạc cần đem theo, tôi thì liên tục viết lưu bút chia tay bạn bè... Nhưng bộ Xa Mạc-Tư-Khoa tôi đọc vừa xong thì lạinhận quyết định dạy học tại Sài Gòn. Ngôi trường mà trước đây ngày nào tôi cũng đi ngang qua và chẳng bao giờ tôi nghĩ sẽ dạy học ở đây.
Ngày 15-4-1977, tôi đi nhận nhiệm sở, tôi chọn cái áo dài lụa trắng thích nhất để mặc, kết quả là bác bảo vệ không cho tôi vào… vì không có phù hiệu, sau khi biết là giáo viên bác đã rối rít xin lỗi, tôi cười vui vẽ nói không có chi nhưng tự nhủ tôi sẽ chỉ mặc áo dài màu khi đi dạy.
Ngôi trường cả cấp II và cấp III, khoảng trên dưới 250 lớp và có gần 300 giáo viên, những ngày đầu tôi gần như không dám vào phòng giáo viên, kiếm cớ lân la ở thư viện. Đông giáo viên như vậy mà vẫn thiếu nên tôi được phân công buổi sáng dạy khối lớp12 và buổi chiều khối lớp 7. Rút kinh nghiệm chuyện áo dài trắng, giờ đầu tiên lên lớp, một lớp 12 khối D, tôi mặc áo dài tơ vàng, tóc bới cao cho giống… mệ, khi chuông reng báo giờ lên lớp, chắc nhìn mặt tôi thấy ngơ ngơ tội nghiệp, một đàn anh cùng tổ bộ môn chuyên ngậm píp thuốc lá trong giờ ra chơi cho tôi một lời khuyên: “Muốn nói cho bọn cấp III này nghe lời thì em phải nhìn vào mắt chúng nó mà nói nhé, nhìn tránh đi chỗ khác thì em không dạy nổi chúng nó đâu”. Tôi mang theo lời tư vấn đầu tiên, bước những bước chân nhẹ nhàng lên lớp, gót giày cao gót nghe lốp cốp các bậc cầu thang. Tôi vừa xuất hiện ở cửa lớp, bọn học sinh đồng loạt đứng dậy, lô nhô… như một cái rừng, tôi đĩnh đạc bước lên đầu bục giảng ở cửa lớp để đi lại bàn giáo viên, trong khung cảnh im ắng đó ở cuối lớp bỗng vang lên một câu “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc”, và tiếp theo là sự yên lặng, không một tiếng cười khúc khích lẽ ra phải có, cha mẹ ơi, cái bục giảng nằm theo chiều ngang lớp chỉ độ 10 m, nhưng tôi đi hoài mà chẳng thấy đến được bàn giáo viên, chân chỉ chực khuỵu xuống, đôi giày cao gót gõ lốc cốc kiêu hãnh vài phút trước đây bây giờ chỉ làm tôi muốn… té. Bước được đến bàn giáo viên tôi phải đứng dựa vào bàn để trấn tĩnh, và bây giờ cái rừng người đó đều đồng loạt ngước nhìn tôi với ánh mắt ngây thơ… vô số tội, thật tình tôi chỉ muốn tránh nhìn chúng nó, nhưng nhớ lời đàn anh ngậm píp, tôi cố nhìn thẳng vào học sinh, chúng nó cũng nhìn tôi, chân tôi run và suýt chút nữa tôi đã nhìn tránh đi nơi khác, may là có cái bàn cho tôi tựa vào, cô trò nhìn nhau chỉ vài giây nhưng tôi thấy dài lắm, tôi đã định bỏ cuộc… nhìn vào mắt nhau này. Nhưng may quá, chúng nó đã cụp mắt xuống, tôi không rầy rà tiếng nào mà chỉ gật đầu chào và nhỏ nhẹ cho các em ngồi xuống (còn sức đâu mà la rầy gì nữa, tôi chỉ mừng vì thoát được chuyện… nhìn nhau), suốt tiết dạy đầu tiên đó tôi hầu như chỉ giảng và cố viết lên bảng càng ít càng tốt, để tránh xoay lưng ra lớp, lý do là… lưng áo tơ vàng của tôi ướt đẫm mồ hôi. Chấm dứt giờ dạy, chuông ra chơi vang lên, bước ra khỏi lớp tôi chạy về phòng giáo viên và vào ngay toilet… để khóc. Chủ nhật tuần đó nhà tôi có một đoàn học sinh lộc ngộc lố nhố đến thăm, nhìn ra cổng nhà, tôi lại toát mồ hôi, nhưng hóa ra là các em đến xin lỗi.Thì ra chúng nó bắt cá với nhau xem cô giáo mới ra trường sẽ phản ứng ra sao: nam sinh thì cá là tôi sẽ khóc, nữ sinh cá là tôi sẽ… chửi. Cuối cùng chúng nó thán phục: “Cô ngon lành quá, coi cái vụ đó như phủi bụi”. Dĩ nhiên tôi dấu nhẹm chuyện khóc trong toilet. Má tôi rất vui vì mới đi dạy đã có học trò đến thăm, bà tốn hết cả nồi chè bo bo đậu đen đường tán cho chúng nó.
Nhưng có lẽ vì thế mà cô trò chúng tôi trở nên tâm đầu ý hợp. Và tôi say sưa với chuyện dạy học của mình, nửa năm học đầu tiên 1977-1978, bởi tính nhiều chuyện, tôi hay thêm thắt vào bài giảng những chuyện không có trong sách giáo khoa: Giảng bài chiến thắng Hà Hồi - Ngọc Hồi, trên bản đồ tôi còn chỉ thêm một con đường ngược từ Thăng Long về Phú Xuân mà ngày mùng 5 Tết, Quang Trung theo đó gởi về cho vợ một cành đào để công chúa Ngọc Hân đỡ nhớ quê nhà. Trong cuộc chiến Nguyên Mông, sách giáo khoa chẳng có chữ nào về danh tướng Phạm Ngũ Lão, tôi cũng mất thêm 5 phút quý báu của 1 tiết lên lớp để kể chuyện ông ngồi đan sọt mãi lo nghĩ chuyện nước mà giáo đâm vào đùi chảy máu cũng không hay. Hoặc bài người nông dân áo vải chống quân Minh tôi phải rán chứng minh cho học sinh thấy cụ Nguyễn Trãi làm quân sư cho Lê Lợi cũng không kém chi Gia Cát Lượng phò Lưu Bị với chi tiết cụ cho lấy mật mía viết từng chữ lên lá cây rồi bỏ vào rừng cho kiến đục thân lá, sau đó thả xuống suối, người dân nhặt được lá xếp lại thành ra câu sấm truyền “Lê Lợi vi quân – Nguyễn Trãi vi thần”. Tóm lại thường thì khi tiếng chuông ra chơi hoặc chuyển tiết vang lên, hành lang nhộn nhịp giáo viên, học sinh qua lại thì lớp tôi dạy lúc nào cũng im ỉm cửa vì tôi đang… cháy giáo án bên trong. Học kỳ I kết thúc, chuyện thường xuyên cháy giáo án của tôi bị nêu ra, Khối thì sợ mất điểm thi đua,Tổ bộ môn sợ mất chỉ tiêu tiên tiến… Tôi được Ban Giám Hiệu mời làm việc với lời nhắc nhở rằng nếu không thực hiện đúng 5 bước lên lớp, tôi sẽ bị coi là không đủ… khả năng chuyên môn. Vậy là chấm dứt những chuyện ngoài giáo án.
Không nói được trong giờ, thì nói ngoài giờ, năm đó tôi làm giáo viên chủ nhiệm lớp 11 A (ban Văn-Sử-Ngoại ngữ), học trò cũng rất mê Sử, vậy là chúng tôi tổ chức một buổi sinh hoạt ngoại khóa trao đổi về môn Sử: “ Phan Thanh Giản: Công hay tội?”. Vấn đề này, bây giờ năm 2011, nói ra thấy bình thường, đó là trao đổi tranh luận về lịch sử, với các tư liệu lịch sử chính thống gần như đầy đủ trong thư viện. Nhưng năm 1978, khi mà tài liệu lịch sử duy nhất trong thư viện là sách giáo khoa mà sách giáo khoa là pháp lệnh, và trong đó ghi ràng ràng: “Phan Lâm mãi quốc; Triều đình thí dân” (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp), thì một cuộc ngoại khóa với cái tên như vậy đủ khả năng cho sự nghiệp dạy học của tôi dừng lại ngay từ giờ phút đó, nhưng tôi – một con nhãi ranh điếc không sợ súng – nên cứ ngơ ngơ tiến hành. Cũng may ông bà phù hộ tôi, nên dù tôi đã có lễ phép đến mời từ Ban Giám Hiệu, đến Tổ trưởng bộ môn,Trưởng khối chuyên môn và các giáo viên đồng nghiệp trong tổ, nhưng chắc ai cũng thấy chẳng nên mất thì giờ với một cô nhóc mới ra trường như tôi nên chẳng ai đến dự, thành ra cũng chẳng ai biết chúng tôi đã làm gì, trừ ông đàn anh ngậm píp. Chỉ với sách giáo khoa nhưng các học trò của tôi cũng tranh luận rất sôi nổi, phe bảo có tội vì đã làm mất 6 tỉnh miền Nam, phe nói có công kể ra những chuyện thanh liêm, thương dân và đã nhất là ông đã tự vẫn sau khi làm mất 6 tỉnh… Giá như ngày đó tìm ra được một bộ Đại Nam Thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn như bây giờ thì đã không phải bàn, bởi vì 10 năm sau khi cụ Phan Thanh Giản tự vẫn, năm 1886,vua Đồng Khánh đã xét lại công tội của cụ và đã ra chiếu chỉ “khai phục nguyên hàm” và khắc lại tên trong bia tiến sĩ ở Văn miếu Huế. Nhưng như đã nói – đó là năm 1978 – và thầy trò chúng tôi đã phạm húy khi dám bàn luận về công của cụ Phan Thanh Giản, đàn anh ống píp – người duy nhất đến dự buổi ngoại khóa – khi được mời phát biểu cảm tưởng vào cuối buổi đã cười cười nhận xét về hai bông hồng được cắm rất khéo trên bàn chủ tọa, về sự lưu loát và tranh luận rất sôi nổi của các em học sinh… rồi thôi. Khi ra ngoài hành lang chỉ còn có hai anh em, anh đã gõ cái ống píp lên đầu tôi: “Này cô em, muốn đi dạy học thì không nói gì ngược lại với sách giáo khoa cả nhé! Và cũng đừng kể lể gì trong họp tổ về cái buổi này đấy!”
Vậy là theo năm tháng tôi dần dần đã đi theo cái quỹ đạo tất nhiên của chuyện dạy học: giáo án và đồ dùng dạy học đầy đủ, đúng 5 bước lên lớp, không ngẫu hứng phá cách trong giờ. Thậm chí có lúc tôi phát chán vì sự lập lại đều đều những tiết dạy. Nhưng dù có lúc mệt mõi như vậy, sau 11 năm đi dạy học, đến khi vì một việc riêng tôi chuyển ngành sang một Viện nghiên cứu KHXH. Vậy mà từ đó đến gần 20 năm sau thỉnh thoảng tôi lại bị những giấc mơ mà bạn bè gọi là “hội chứng… đi dạy học”, tôi thấy tôi đi dạy trở lại, nhưng luôn đến trường trễ giờ và không biết là sẽ dạy lớp nào, tôi đi tìm phòng giáo vụ để xem thời dụng biểu nhưng tìm mãi không ra, hoặc đã đi lên cầu thang nghe tiếng học trò đùa giỡn ầm ầm trên đó biết là lớp của mình nhưng sao đi hoài vẫn không đến lớp được, hoặc đi lên lớp nhưng không nhớ là đã dạy đến bài nào, không có một chữ nào trong đầu, không giáo án trong tay… cứ như vậy, kết thúc giấc mơ là nỗi lo sợ khiến tôi tỉnh giấc. Mọi người suy luận chắc tôi vẫn… thèm đi dạy học, trong khi tôi lại thấy tôi đã yêu thích công việc ở Viện Nghiên cứu, nhưng các giấc mơ cứ trở đi trở lại trong một thời gian dài mới chấm dứt. Tháng 11 đến, nghe các bạn blog râm ran nói chuyện trường lớp, bỗng nhớ lại cái lúc đầu tiên mình đi dạy học!
Tháng 11 này, tôi có hẹn với các bạn lên Đà Lạt ngắm dã quỳ, cứ tưởng cảm giác nôn nao những cuộc hẹn ở tuổi 18 đã đi qua rồi, nhưng hình như đang trở lại, có lẽ vì tôi là chủ nhà, cứ mong các bạn đến để khoe Đà Lạt, dù tôi không phải là người ở đây, tôi vẫn cứ thích nghe mọi người… khen Đà Lạt, chắc vì ân tình xưa của tôi với Đà Lạt
Dạo đó - mùa hè năm 1978 - ban ngày tôi dạy học sinh phổ thông, và vì là đoàn viên thanh niên nên buổi tối tôi nhận dạy thêm bổ túc văn hóa cho người lớn, cho nên có những trường hợp phụ huynh học sinh ban ngày lại là học viên BTVH của tôi. Lớp tôi chủ nhiệm buổi sáng có một phụ huynh như vậy, chị lại là một người quan trọng ở Bến xe Miền Đông, thời đó giá vé xe đò chỉ vài đồng nhưng một người chỉ mua được 2 vé, nên khi chị hỏi tôi nếu có cần tổ chức cho trường đi đâu xa thì đưa giấy giới thiệu đến chị có thể cho ký hợp đồng cả xe. Được lời như mở tấm lòng, tôi là hướng đạo sinh từ bé nên thấy viễn cảnh một kỳ cắm trại xa qua cơ hội trên trời rơi xuống này, bàn với BCH Đoàn trường, trong đó cũng có vài em là hướng đạo sinh và cuối cùng tôi đã được đưa lại một kế hoạch đi cắm trại… ở Đà Lạt 1 tuần để trình Ban Giám Hiệu, hỏi ý kiến Bí thư Chi đoàn giáo viên là một chị ở B về, chị cũng đồng ý vì cho rằng nên tổ chức như vậy để học sinh có cơ hội học đi đôi với hành, Hiệu phó kiêm Bí thư Đoàn trường cũng ở trong phong trào SVHS Sài Gòn trước đây nên chị cũng dễ dàng chấp nhận cho phép tổ chức với điều kiện Chi đoàn giáo viên phải đi theo. Vậy là một kế hoạch như mơ đã sắp thành hiện thực, đến khi cho học sinh đăng ký tôi đã phải hết hồn khi nhận lại danh sách hơn gần 130 em tham gia (đó là còn giới hạn chỉ nhận học sinh trong BCH Chi đoàn lớp), cộng với gần 20 giáo viên trẻ, chúng tôi có một đoàn đi cắm trại gần 150 người. Khi tôi mang về cái hợp đồng ký với Bến xe Miền Đông 3 xe đò lớn thì cả đám học sinh ấy chúng nó hò reo vang trời.
Khâu khó nhất là kiếm được xe đã xong, còn lại chỉ là…chuyện nhỏ, mỗi em xin bố mẹ tiền vé xe đi Đà Lạt không khó vì tôi nhớ chỉ khoảng mươi đồng, liên lạc với trường Bùi Thị Xuân kết nghĩa Đà Lạt để xin ngủ… trong trường, chia ra mỗi tổ có khoảng 15 trại sinh và họp lại để phân công chuẩn bị, mỗi trại sinh mang theo phần gạo ăn một tuần của mình, đóng góp một số củi để nấu ăn và đốt lửa trại, phân chia nhau đem theo chăn, mùng, nồi niêu xoong chảo, mỗi người cũng chuẩn bị góp thức ăn khô như muối xả, đậu phộng kho nước tương, cá khô… rồi đem theo nước mắm, nước tương, đường, bột ngọt…, các loại rau củ sẽ mua ở Đà Lạt. Gần đến ngày đi, Đoàn trường Bùi thị Xuân báo tin trường phải dành cho một cuộc họp hành lớn gì đó, nên chúng tôi sẽ được chuyển sang ở trường Nguyễn Du gần đó. Hình như lúc đó với chúng tôi chuyện ăn ngủ không quan trọng, chỉ thấy thích mê đi vì được đi chơi Đà Lạt 1 tuần liền. Ngày khởi hành, 3 chiếc xe đò mà trên mui chở đầy củi, còn trong xe thì nào là gạo rồi mùng mền, nồi xoong, đàn guitar… Chúng tôi ngoài giấy giới thiệu đóng dấu đỏ lòe còn cẩn thận mang theo cuốn sổ giấy giới thiệu và con dấu tròn của Đoàn trường. Trên dọc đường đi hơn 300 km bọn học sinh hát suốt, qua bao nhiêu là trạm gác đều suôn sẽ, bởi vì dù trên xe đầy ắp gạo củi nhưng chắc không ai nhìn chúng tôi thành đi buôn đường dài bởi những cái miệng dù xe ngừng lại trạm kiểm tra vẫn cứ ngoác ra vận hành hết đề-xi-ben của cổ họng để hát, có lẽ điếc tai quá nên trạm nào cũng cho chúng tôi đi ngay sau khi chỉ nghiêng nghiêng ngó ngó một tí trên xe.
Đến nơi trời đã về chiều, các bạn học sinh Đà Lạt đón chúng tôi ở một ngôi trường nhỏ, nhưng rất thuận tiện cho việc cắm trại, trường có khoảng trên 10 lớp học mái tôn, cửa gỗ nhưng rất kín nên khá ấm áp, một sân rộng phía trước để sinh hoạt và đốt lửa trại, phía sau một bên là dãy nhà vệ sinh, một bên là một khoảng sân rộng có mái lá, trống trải chung quanh hình như là nơi sản xuất hướng nghiệp gì đó, bây giờ là mùa hè nên trời mưa về buổi chiều, đây là chổ đặt bếp nấu ăn lý tưởng cho chúng tôi. Các bạn học sinh Đà Lạt sau đó đã mang đến nào là xô, chậu… rồi các loại rau củ: susu, khoai tây, cà rốt, củ dền, bắp cải…Tóm lại chúng tôi đã có một nơi cắm trại tuyệt vời. Một đêm lửa trại hoành tráng dưới trời Đà Lạt 17 độ mùa hè.
Chương trình hàng ngày của trại khá chặt chẽ: 5.00 có còi trực nhật đánh thức, 5.30 tập thể dục tập thể, 6.00 nổi lửa nấu cơm ăn sáng và nắm cơm mang theo ăn trưa, đến chiều về lại nổi lửa nấu cơm ăn tối và sinh hoạt lửa trại, 6 ngày ở Đà Lạt, mỗi ngày từ đường Bùi Thị Xuân chúng tôi đã được các bạn Đà Lạt hướng dẫn đến các nơi tham quan bằng cách… đi bộ, dạo đó Đà Lạt vẫn còn xanh mướt rừng thông trong thành phố, và hầu như khắp nơi đều vẫn là những vườn rau, vườn hoa, để đến những thắng cảnh mỗi ngày chúng tôi thường đi về trên 10km, xe đạp của các bạn Đà Lạt được dùng để chất đồ cắm trại mang đi trước, tuy nhiên do được dẫn đi theo những đường ngang ngõ tắt, xuyên qua những ngọn đồi có những cây hoa hướng dương nở to như như cái mẹt nhỏ, hoặc đầy hoa margueritetrắng, đi qua các thung lũng đầy vườn rau, cứ nghe tiếng lao xao í ới: Cây cà rốt đây á? Cái này là cây khoai tây á? Hoa này là hoa gì đây?..., những người nông dân Đà Lạt thích thú nhìn bọn học sinh Sài Gòn vàcho bao nhiêu là rau củ đem về, thường cuối ngày khi trở về trại nấu cơm chúng tôi không phải ra chợ mua rau như đã dự tính. Đang giữa mùa mưa nên buổi chiều về là trời mưa, chúng tôi lếch thếch ướt át về trại như một đám tàn quân, tôi đã rất sợ, mưa gió lạnh lẽo thế này, lại chỉ ngủ trên những cái bàn học kê sát lại với nhau, nhỡ có đứa nào lăn ra ốm thì nguy, nhưng chắc cũng nhờ một phần trời thương, còn lại thì chiều nào về cũng phải đốt bếp nấu cơm, bọn trẻ xúm xít quanh bếp lửa nướng khoai, nướng bắp nên ấm, ban đêm thì nằm chen với nhau (vì chia nhau mang đồ đạc nên cứ 2 đứa lại chung một cái mền) thành ra cũng không lạnh lắm, buổi chiều về coi bèo nhèo tưởng sáng mai phải cho nghỉ xả hơi một bữa, nhưng sáng ra mặt mày đứa nào cũng tươi rói, lại đi tiếp. Thời gian đó thác Cam Ly vẫn còn rất đẹp, đầu nguồn vẫn còn nhà rông dài của người K’Ho, những rừng thông tuyệt đẹp vây chung quanh. Thác Datanla còn rất hoang sơ, chúng tôi cắm trại ở rừng thông phía trên chỉ ngắm thác từ xa, bọn con trai tìm cách để leo xuống thác. Trường "Couvent des Oiseaux" (bây giờ là trường Cao Đẳng Sư Phạm) bên cạnh một rừng thông già đẹp như mơ. Đồi Cù thì mênh mông làm kiệt sức khi chơi trò chơi lớn ở đây, đã có một cuộc thi chạy marathon quanh hồ Xuân Hương…, đó là cuộc cắm trại hoành tráng nhất mà tôi có trong đời.
Rồi 6 ngày cũng trôi qua nhanh như chớp mắt, chiều ngày cuối chúng tôi chỉ để gạo lại đủ nấu cho bữa sáng và nắm cơm trưa, còn thì cho hết số gạo còn lại vào một bao lớn để các bạn Đà Lạt mang đến cho nhà chùa làm từ thiện. Khi đi mang bao nhiêu là củi để nấu, khi về mang bao nhiêu là… củ để làm quà (khoai lang, khoai tây, su su, cà rốt…), tối hôm đó lại một đêm lửa trại chia tay, gần như bọn trẻ thức cả đêm, lưu bút chuyền tay nhau tới tấp. Sáng hôm sau trại nhổ neo, đồ đạc gọn gàng trên sân trường, chia tay bịn rịn học sinh Sài Gòn – học sinh Đà Lạt, có cả những giọt nước mắt, tất cả sẵn sàng chờ xe đến.
Đúng 7 giờ ghi trong hợp đồng… chẳng thấy cái xe nào cả, cứ ngóng mãi về phía cuối dốc đợi xe lên, đến 8 giờ thì không thể đợi được nữa rồi, tôi và chị Bí thư Chi đoàn giáo viên mượn xe đạp chạy ra bến xe, ngoài đó vắng ngắt, những chuyến xe đò buổi sáng đều đi cả rồi (dạo đó bến xe mỗi ngày chỉ có một lượt xe đi và về), đưa hợp đồng ra chẳng ai biết cả, người ta nói: “Hợp đồng này ký với bến xe ở Sài Gòn, ở đây chúng tôi không biết.” Khi hỏi bây giờ biết có hợp đồng rồi liệu ngày mai có xe không, chúng tôi được trả lời: “Sài Gòn ký thì Sài Gòn điều xe, ở đây không biết”. Lần thứ nhất trong đời tôi bắt đầu biết thế nào là sự quan liêu, phóng ra bưu điện gọi về Sài Gòn, ngày đó điện thoại đường dài khó khăn hết sức, có khi gần 10 phút mới nối được cuộc gọi. Đầu tiên xin gặp chị phụ huynh, người quan trọng ở bến xe, sau một lát được trả lời chị đã đi công tác ở tỉnh, đề nghị cho gặp nhân vật đã đứng tên ký hợp đồng, sau một lát được trả lời… anh ta đã nghỉ phép sau 2 ngày nữa mới đi làm (sau này mới biết anh ta nghỉ phép và… lơ đãng cất luôn cái hợp đồng đó vào tủ), đòi nói chuyện với người có trách nhiệm ở bến xe hôm đó và đọc hợp đồng cho ông ta nghe, được trả lời: “Không biết gì về hợp đồng này hết, mỗi ngày bến xe có bao nhiêu là giấy tờ, ai ký người đó chịu trách nhiệm”. Kết thúc cuộc điện đàm, tôi nghe lạnh từ dọc sống lưng xuống tới gót chân, tôi hình dung ra chiều hôm đó, ở cổng trường đầy phụ huynh đến đón con và…
Định thần lại chúng tôi tiếp tục gọi về trường và nhờ người trực để báo lại với phụ huynh… ngày mai học sinh đi trại mới về. Trước mắt là nói như vậy để ở Sài Gòn yên tâm, còn làm sao để có xe về thì hai đứa tôi… chưa biết. Sau đó chạy ngay về trại, dọc đường vừa đạp xe vừa hội ý là phải nói sao cho học trò đừng hốt hoảng, chị bí thư chi đoàn giáo viên đã cố hết sức điềm tĩnh báo tin…ngày mai mới có xe về, tôi hội ý chớp nhoáng với giáo viên chuẩn bị tinh thần là nếu bọn trẻ có lo âu khóc lóc thì sẽ trấn an chúng nó. Nhưng vừa nghe dứt câu thì bao nhiêu thứ gì đang có trong tay chúng nó ném thẳng lên trời và gào U…ra…ra…. Thì ra bọn nó chẳng lo âu tẹo nào mà chỉ mừng vì được ở lại một ngày nữa, bọn học sinh Đà Lạt ở lại chia tay cũng mừng không kém, xúm lại liền bàn xem hôm nay sẽ đi đâu chơi nữa, thầy cô giáo đang lo về chuyện lương thực vì còn bao nhiêu gạo đã mang cho nhà chùa cả rồi. Nhưng bọn học sinh thì chẳng lo lắng gì cả, chúng nó chỉ các bao khoai, ý nói tối nay sẽ ăn khoai nướng, bữa trưa thì đứa nào cũng có một nắm cơm rồi. Chi đoàn giáo viên lại hội ý, bàn chán cũng chẳng ra được cách nào, đợi “thằng cha nghỉ phép” kia đi làm thì phải 2 ngày nữa, còn cử người mang hợp đồng về Sài Gòn thì mỗi ngày chỉ có một chuyến xe, sáng mai mới đi được… mà rõ ràng là không thể nào ở lại thêm vài ngày nữa được. Bên ngoài bọn học sinh cứ chạy ra chạy vào để xin đi chơi, cuối cùng các giáo viên chia nhau đi theo chúng nó, còn hai chúng tôi thì tiếp tục nhiệm vụ… kiếm xe mà trách nhiệm thuộc về tôi vì tôi là người ký hợp đồng!
Hai đứa tôi bắt đầu uể oải đạp xe leo dốc…mà không biết đi đâu, dự tính tìm đường đến UBND thành phố (là tính vậy mà cũng chưa biết đến sẽ tìm ai), đang đithì bỗng nhiên thấy tấm biển TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG, vậy là quẹo đại vô, có giấy giới thiệu dấu tròn đỏ chót nên bảo vệ cho vào ngay, đến văn phòng chúng tôi xin gặp… bác Bí thư, khi người ta hỏi có hẹn trước không thì bọn tôi lắc đầu nhưng cũng nhanh trí giới thiệu là giáo viên ở TP.Hồ Chí Minh và có việc cần gấp lắm, có lẽ cũng thấy tội nghiệp 2 cô giáo đường xá xa xôi tìm đến nên người ta lại bảo: Đồng chí bí thư đi họp rồi. Hai đứa tôi bèn xin ngồi đợi, nói rồi là ngồi xuống ngay (bởi cũng chẳng biết đi đâu bây giờ). Một cô trong văn phòng mời chúng tôi uống trà nóng mới pha, một dì khác chắc thấy mặt mũi hai con bé này bợt bạt vì lạnh nên thương tình mang ra cho một ít mứt gừng nhà làm, cô khác thấy vậy cũng đem khoai lang khô ra mời, bọn tôi vừa đói vừa mệt bây giờ có trà nóng, có khoai lang thế là yên tâm ngồi đợi. Đến 1 giờ trưa bác bí thư ngồi trong văn phòng chắc cũng không mở cửa ra đi ăn cơm được vì 2 con nhãi ranh này vẫn ngồi đó, và ngó bộ dạng thì chúng nó có thể ngồi đợi cho đến tối, nên cuối cùng bác bí thư đành mời chúng tôi vào, nghe xong bác liền lắc đầu: “Ở đây là văn phòng tỉnh ủy, đâu có liên quan gì đến bến xe nên làm sao can thiệp được”. Chúng tôi bèn nói một câu ngang phè: “Nhưng chúng cháu là Đoàn thanh niên, cánh tay phải của Đảng. Bây giờ Đoàn gặp khó khăn, chúng cháu kiếm Đảng chứ biết kiếm ai bây giờ!” Nhưng không ngờ cái câu ngang như cua ấy lại…đúng quan điểm lập trường, phần vì thấy không cách nào xua đuợc 2 cô giáo này đi, nên cuối cùng bác bí thư viết một thư tay, ký tên đóng dấu vào và nhờ một dì trong văn phòng cùng đi với chúng tôi ra bến xe. Nhờ lá thư và nhờ cách xởi lởi của dì ấy, đến 4.30 chiều thì chúng tôi có được lời hứa sẽ có 2 xe vào sáng mai và 1 xe vào sáng mốt, vì không thể có cả 3 xe cùng lúc trong khi bến xe chỉ có 5 cái xe. Ôi trời, tôi đạp xe ra về lên dốc mà như bay lên mây, ít ra thì chiều mai cũng có 2/3 học sinh đã có mặt ở Sài Gòn. Nhóm về sau nhờ nhóm về trước nhắn tin cho gia đình nên cũng yên tâm ở lại một đêm nữa. Tối hôm đó cả trại ăn tối với bắp nướng, khoai nướng và chuối rừng nướng, ngày hôm đó lúc chúng tôi đi tìm cách để có xe thì cả trại đi chơi trong rừng ở Trại Hầm tại một con suối có tên là Hố Tôm, bắt những con tôm suối và hái về rất nhiều chuối rừng. Tôi chưa từng ăn trái chuối nướng nào ngon như vậy, mật tươm vàng ươm miếng chuối. Tôi ở trong nhóm về sau, và có một ngày thư thả thật sự, tôi lang thang trong thành phố, một lần khi quẹo vào một con dốc nhỏ, tôi bắt gặp một thung lũng trồng hoa, rất nhiều marguarite trắng, và lần đầu tiên trong đời tôi được người ta cho tự hái hoa, ôm bó hoa cúc trắng đi bộ buổi chiều đầy sương tháng 6 Đà Lạt, tôi cảm thấy mình… đẹp như… trên phim xinê.
Có lẽ vì ân tình ngày đó của Đà Lạt, đất và người ở đây đã cưu mang chúng tôi, những kẻ đang điêu đứng vì thói quan liêu của thời bao cấp, nên tôi đâm ra rất mê Đà Lạt, có dịp là tôi lại về đây. Đến khi gần cuối đời một cơ duyên khiến tôi mua được mảnh đất nhỏ nơi này, tôi đã tiêu hết đồng xu cuối cùng của một đời lao động vất vả của mình cho ước mơ một căn nhà trên cao nguyên, và tôi đã không phải hối tiếc vì việc này. Tôi rất hạnh phúc khi được bạn bè đến thăm để tôi khoe Đà Lạt, như để trả một chút cho ân tình cũ mà Đà Lạt đã cho tôi khi tôi 25 tuổi.
Loa...loa...loa...... Xin được thông báo chương trình dự kiến cho những ngày đi gặp dã quỳ hoa:
Ngày thứ nhất (11-11-11): - Mờ sáng nhóm tam cô nương làng Mul Gioheomay - Minhtmap - Chụt siêu quậy sẽ đổ dốc nhà Gia Minh. Uống cà phê Văn Khoa ở sân vườn GM, ngắm mặt trời lên. Ăn sáng: bánh căn xóm Trại Hầm. Đi chơi: thuê thêm xe gắn máy cùng với một chiếc ở nhà lang thang mùa thu muộn Đà Lạt ghé bất cứ chỗ nào thích.
Ăn trưa: Nem nướng bà Hùng. - 15.00: Nhóm chị Quan Thư, Hồng Diệp, Thanh Quế tiếp tục đổ dốc GM. Lúc đó chủ nhà đang nấu cháo gà. - 16.00: Đến lượt chị Thu Nhân, Cỏ May đổ dốc. Kết thúc đợt hành quân đến với dã quỳ. - Buổi chiều: Ăn cháo gà dằn bụng, để lang thang ngắm hoàng hôn hồ Xuân Hương, sau đó tắt nắng thì dạo chợ đêm Đà Lạt. - Buổi tối: Trăng lên, đốt nến ngồi ngoài sân, hội "bàn bánh" với cà phê và trà atisô. Ngày thứ hai (12-11-11): - Mờ sáng: Tiếp tục cà phê sân vườn - Ăn sáng: Cháo trắng hột vịt muối của Cỏ May
- Đi chơi: Tất cả lên một chiếc tắc xi 7 chỗ cộng với xe gắn máy của GM. Sẽ đi về hướng Suối Vàng, đường đi cảnh đẹp và nhiều chổ có dã quỳ. Khi về sẽ ghé một nơi rất đẹp mà không có tour du lịch nào đến được vì là nhà riêng. GM sẽ xin phép chủ nhà cho vào ngắm cảnh. (Chổ này GM dẫn nhóm Văn Khoa ghé một lần rồi)
- Ăn trưa: Đi chơi về nấu bánh canh (của Thu Nhân) với cua đồng (của Cỏ May) - Buổi chiều: Ăn món nướng ngoài sân với đủ các loại... chai mọi người mang lên và uống theo ý thích. - Buổi tối: Tùy theo ngẫu hứng, lang thang ngoài phố hay ghé cà phê "Hoa violet ngày thứ tư" hay trải chiếu thơ ở sân nhà... Ngày thứ ba (13-11-11): - Mờ sáng: Ai muốn mua hoa lá, rau củ quả mang về làm quà thì chạy ra chợ sớm. - Ăn sáng: "Cơm chiên Thu Nhân" - Đi chơi: Dạo xóm nhà GM, nếu đủ sức đi bộ lên đồi để MM cho mọi người "Thấy Phật"
- 10.00: Quay về ăn kem Việt Hưng (ngồi trên lầu nhìn xuống đồi thông cảnh cũng khá là...romantic) - 11.00: Chuẩn bị hành lý để xe trung chuyển đón nhóm thứ nhất rời Đà Lạt bằng xe. - 13.00: Nhóm thứ hai cũng ra sân bay về lại Sài Gòn. Còn lại sau đó chị Quế đi Đức Trọng còn Gia Minh đóng cửa nhà . Kết thúc chiến dịch Dã quỳ hoa Tái Bút: - Đây là chương trình dự kiến, mọi người tùy ý chỉnh sửa. - Sân bay Liên Khương có một vạt dã quỳ mênh mông, nhưng chỉ có hành khách đi máy bay mới vào được, vậy nên chị Thu Nhân và chị Thúy nhớ chộp ảnh để share cho mọi người.
- Nhóm đi xe hơi ban ngày cũng để ý cảnh dọc đường, gặp may cũng chộp được ảnh hay hay.
- Cuối cùng: Những hình minh họa trên đây là dã quỳ của những năm trước, còn năm nay đến giờ đó dã quỳ nhiều hay ít là do... ông trời, GM không chịu trách nhiệm. Hi...hi...
Hơn 15 năm trước, trong một lần họp mặt đã có một ý tưởng là làm một cuốn Kỷ yếu về những năm tháng tuổi trẻ ở Văn Khoa. Bạn Huỳnh Ngọc Hội sẽ là người thực hiện ý tưởng đó khi có bài vở trong tay. Từ đó cứ mỗi lần có dịp gặp nhau, bạn Hội lại nhắc chuyện viết bài. Thấy thương nhiệt tình của bạn, Thu Nhân, Trân Thúy, Minh An bảo nhau viết bài gởi cho Hội. Tôi đã chép tất cả vào một dĩa mềm và đưa cho Hội. Năm tháng cứ qua đi, mọi người cứ nhắc chuyện làm Kỷ yếu, nhưng viết bài thì ai cũng cười... và hứa. Khi bạn Hội mất rồi, tâm nguyện về cuốn Kỷ yếu của bạn lại được nhắc lại trong lần giổ thứ 2 của bạn. Bao nhiêu lần đổi máy tính, bài tôi viết về Văn Khoa cũng thất lạc, tôi cũng đã định cười và... hứa. Nhưng chị Hải - vợ của Hội - khi nghe tôi nói không còn bài đã viết, chị lẳng lặng đi tìm và trong đám giổ Hội lần thứ ba chị đã đưa cho tôi lại chiếc dĩa mềm cùng 3 bài viết năm xưa đã in. Bạn tôi vẫn giữ những gì tôi đưa, chiếc dĩa mềm bây giờ không dùng được nữa, nhưng đó là kỷ vật của bạn dành cho tôi.Trong khi đợi cuốn Kỷ yếu được thực hiện, nhóm bạn nguoivankhoa đã làm GÓC NHỎ VĂN KHOA như một phần nào tâm nguyện của bạn Hội, và 3 bài viết mà Hội đã giữ đã được đưa lên GNVK đầu tiên.
Hôm nay 17 tháng 9 AL, ngày giổ của bạn, chúng tôi sẽ lại đến với gia đình bạn và quây quần với bạn. Tôi đưa bài viết cũ lên blog của mình như một nén hương nhớ đến bạn và ngôi trường cũ của chúng ta. Lát nữa đây tôi sẽ đến nhà bạn và sẽ thắp hương cho cả những bạn ở xa không về với bạn được hôm nay.
NHỚ VĂN KHOA
Năm 1971 tôi bắt đầu vào Đại học, tôi ghi danh Đại học Văn khoa với mục đích học một năm dự bị để thi vào Đại học Sư phạm. Trường Văn khoa lúc đó dưới mắt cô học trò Tú tài 18 tuổi như tôi là một ngôi trường rộng lớn với những giảng đường mênh mông so với lớp học ở trường nữ trung học, cùng với những cầu thang gỗ cũ xưa và những hành lang dài rộng mà bất cứ lúc nào cũng thấy có sinh viên đi lại hoặc tụ tập thành từng nhóm, điều không bao giờ thấy ở trường trung học. Rồi đến giờ giấc học thì thật tuyệt vời đối với tôi, bởi vì thành phố Sài Gòn những năm tháng sau Mậu Thân đã chạm mặt ít nhiều với chiến tranh, đường phố đầy bóng dáng cảnh sát thường, cảnh sát dã chiến, cảnh sát chìm…, xe nhà binh chạy rầm rập và cố vấn Mỹ cũng đầy ngoài đường, cho nên suốt những năm là học sinh trung học, tôi luôn được đưa đến trường lúc 6.30 sáng, trở về nhà lúc 11.30, ít được đi đâu ngoài con đường từ nhà đến trường và ngược lại. Cho nên khi vào đại học, cảm tưởng đầu tiên của tôi là… sự tự do, giờ học ở Đại học hoàn toàn khác trường trung học, những ngày đầu tiên tôi sung sướng ngồi xe buýt đến trường có khi vào 9 giờ sáng và có lúc về đến nhà thì thành phố đã lên đèn. Nhưng chỉ 1 tháng sau niềm vui của tôi tắt ngấm vì… buồn quá, vài đứa bạn ở trung học cùng ghi danh Văn khoa thì lại khác môn nên cũng khác giờ học, tôi cảm thấy lạc lõng ở đây, sinh viên thì không cần mặc đồng phục, có áo dài, có mini jupe, có quần Jean và dĩ nhiên có những bộ đồ hippy khá bụi bặm. Giáo sư lên lớp mặc áo vét, đeo cà vạt, giảng đường rộng, giáo sư giảng bài bằng micro, nhìn xuống sinh viên ngồi bên dưới mà không cần biết có bao nhiêu người, không điểm danh và không phải trả bài hàng ngày, cũng không có chỗ ngồi cố định, có những buổi tôi đến trễ vì chờ xe buýt nên không còn chổ trong giảng đường thì kéo ghế ngồi ở hành lang gần cửa sổ, không còn lo sợ bị thầy la mắng nhắc nhở như khi còn học trung học, không phải lo lắng vì bài vỡ hàng ngày, nhưng chưa có bạn thân làm tôi cảm thấy buồn và cô đơn khi đi học ở đây.
Có một ngày sau khi học xong một môn ở trường Luật tôi chạy về Văn khoa, lên lớp nhưng không còn chổ ngồi, hành lang cũng đã có nhiều bạn ngồi bên ngoài, và thật tình tôi cũng đã vắng môn học này vài buổi trước, đành phải đi kiếm cour để học thôi, thế là tôi bắt đầu làm quen với phòng Đại diện sinh viên ban Sử Địa, đó là một căn phòng nhỏ gần Hội quán Sinh viên, tôi nhận ra ở đó vài gương mặt quen quen thường gặp trên giảng đường, tôi mua cour rồi quen dần với căn phòng nhỏ đó, đã vài lần ngồi phụ đánh máy bài giảng trên giấy stencil để đưa đi quay ronéo khi phòng Ban đại diện thiếu người mà cour thì cần phát hành gấp. Tôi bắt đầu thấy hết lạc lõng ở trường Đại học, khi hết giờ học hay khi rảnh rỗi tôi lại chạy đến căn phòng nhỏ đó, tôi đã có những người bạn cùng tuổi và làm quen được với các anh chị học lớp trên. Thời gian đó tôi mặc áo dài đi học vì những chiếc áo dài trắng thời trung học vẫn còn, ngoài ra cũng rất thích vì có thể mặc cả áo dài màu mà trước đây chỉ có thể mặc vào dịp lễ Tết. Lúc đó trường Văn khoa đang có phong trào cổ động nữ sinh viên đi học mặc áo dài để giữ lại truyền thống chiếc áo dài Việt Nam trước làn sóng mặc mini jupe và phong trào hippy với các kiểu ăn mặc lôi thôi bụi bặm. Thế là với chiếc áo dài mặc đi học, tôi được mời vào Hội Nữ sinh viên Văn khoa, ở đây ngoài những bạn năm thứ 1 ở tất cả các khoa còn có những chị lớn học năm thứ 2, năm thứ 3 rất dễ thương , và thế là tôi lại biết thêm các Ban Việt Hán, Nhân văn, triết, Anh văn…Tôi dự buổi họp mặt đầu tiên với Hội Nữ sinh viên tại một nơi gọi là Hội quán Văn khoa, và tôi đã bị chinh phục để trở thành người của Hội quán.
Đang ở một đô thị trong giai đoạn chiến tranh mà nhà náo biết nhà đó, mỗi cá nhân tự lực cho sự sinh tồn của mình, không tin bất cứ ai và bất cứ điều gì trừ bản thân mình, thì sinh hoạt của Hội quán Văn khoa lúc đó làm tôi ngạc nhiên. Thoạt nhìn thì đó là một quán cà phê với một quầy bán hàng và thu ngân cùng các bộ bàn ghế như bất cứ một quán cà phê nào lúc đó, nhưng có thêm một bàn bóng bàn. Nhân viên bán hàng là những cô sinh viên Văn khoa mặc áo dài đủ màu và thay đổi người mỗi ngày, ở đó bạn có thể uống cà phê và các loại nước giải khát khác, buổi sáng có bánh cuốn, bánh mì thịt, bánh patêsô ăn điểm tâm, tất cả đều với giá rất sinh viên. Khi được tham gia tôi mới biết Hội quán là nơi gây quỹ sinh hoạt cho Ban Đại diện sinh viên trong phong trào đấu tranh SVHS của trường lúc đó và do Hội Nữ sinh viên quản lý. Một nhóm các chị lớn phụ trách công việc chung như điều động, phân công trực các nhóm làm việc, tìm nơi cung cấp hàng hóa để bán… còn các nhóm làm việc hàng ngày phần lớn là sinh viên năm thứ 1, năm thứ 2, trực bán hàng ngoài giờ học mỗi tuần 1 hay 2 buổi sắp xếp tùy theo lịch học cá nhân. Khi trực thì mỗi nhóm gồm 5 hay 7 người tự phân công luân phiên làm việc, lần này ngồi bán phiếu thu tiền thì lần sau pha cà phê, pha các loại nước giải khát, lần sau nữa thì hoặc rửa ly hoặc chặt nước đá… Khách hàng cũng toàn là sinh viên trong trường và các trường bạn chung quanh như trường Dược, trường Nông Lâm Súc. Đây cũng là lần đầu tiên tôi biết ở Sài Gòn có một quán cà phê như vậy, khách mua phiếu ở một cô sinh viên trẻ măng, cười rất tươi nhưng luôn luôn thu tiền mà không bao giờ … cho ghi sổ, kế đó mang phiếu sang quầy đưa cho một cô sinh viên áo dài tha thướt khác và đợi, khi đồ uống hoặc thức ăn chế biên từ phòng trong được mang ra quầy, khách hàng sẽ tự mang về bàn mình ngồi, và khi rời khỏi quán thì mang ly tách trả nơi quầy để sinh viên phục vụ mang vào trong rửa. Vào những năm 70 thời đó có lẽ ở Sài Gòn có duy nhất một quán cà phê như vậy, nhưng đặc biệt là rất đông khách, thậm chí có những lúc quá đông khách hàng, các cô sinh viên bán hàng trở nên rất “cửa quyền” với khách, nhưng khách hàng phần lớn là các chàng sinh viên trẻ tuổi lại cũng rất kiên nhẫn vui lòng chờ đợi để nhận một ly cà phê. Ngoài ra tất cả mọi người tham gia Hội quán đều làm việc tự nguyện, vào đầu buổi làm việc chị phụ trách giao cho nhóm một hộc tủ tiền lẽ và một cuốn Nhật ký Hội quán, cả nhóm bắt đầu ai vào việc đó: chặt nước đá, chuẩn bị ly tách, phin cà phê, nấu nước sôi, nhận giao các thức ăn sáng làm sẵn, bán phiếu, thu tiền, rửa ly tách…, đến hết buổi làm việc chị phụ trách nhận lại một hộc tủ tiền đã được đếm và xếp theo loại, ghi vào nhật ký bán hàng. Sau khi để lại tiền vốn mua hàng hóa cho ngày hôm sau, phần tiền lời hàng ngày bỏ hết vào quỹ để tổ chức các hoạt động như văn nghệ, làm báo, hội họp, phát cour cho sinh viên nghèo, cứu trợ thiên tai…
Thời gian đó một cô sinh viên tiểu tư sản thành thị như tôi dĩ nhiên không hiểu gì về cái gọi là kinh tế tập thể, kinh tế XHCN…, nhưng sinh hoạt ở hội quán Văn khoa đã làm tôi bất ngờ và hãnh diện khi được tham gia vào tập thể đó, tôi đã yêu mến bạn bè và xem Hội quán như ngôi nhà thứ hai của mình. Từ tình cảm như vậy dần dần tôi đứng vào phong trào SVHS đấu tranh, tôi tập hát và tham gia những đêm không ngủ, tôi đã ở lại trường đến tối mịt để đánh sencil, quay roneo làm báo, kẻ khẩu hiệu, dán áp phích, đã xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, chống Mỹ, tham gia những đêm Hát cho đồng bào tôi nghe… Buổi sáng đến trường mong ngóng gặp lại các bạn bè quen thuộc, bởi vì nếu vắng một người nào thì có thể bạn đã vào Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn tối hôm qua rồi. Với tình cảm và hoạt động cùng bạn bè , tôi gắn bó với trường Văn khoa với phong trào SVHS Sài Gòn lúc bấy giờ, tôi yêu quý các anh chị và bạn bè trong phong trào, ở đây dần dần tôi hiểu ra thế nào là chiến tranh nhân dân, tôi mang trong tim niềm mơ ước đất nước thống nhất, tôi đau lòng và giận dữ khi phong trào bị đàn áp, đó là thời gian đẹp đẽ nhất trong thời tuổi trẻ, tôi đã sống hết mình, đã có những người bạn thật tốt, đã có tình yêu và cũng có những nỗi buồn. Cho đến bây giờ, sắp bước vào tuổi 60, tôi vẫn tự hào đã có một thời gian thật đẹp như vậy khi còn trẻ, và cảm thấy thật giàu có khi nhớ về những kỷ niệm thời tuổi trẻ của mình.
Thật vui khi được anh Võ Quê tặng cho một bài thơ sau khi anh đọc chuyện GM đi chơi ở Siemrep. Bài thơ rất dễ thương, gợi nhớ đến dáng vẻ huyền ảo của 1.700 cô vũ nữ Apsara trên những ngôi đền Angkor. Vì không biết tên bài thơ nên GM xin phép cho một cái tựa như trên để đưa bài thơ lên đây khoe với mọi người món quà của anh Võ Quê. Cám ơn anh hí!
Áp-sa-ra nụ cười của em Điệu múa tài hoa bay vào đất nước Ngàn sao khuya long lanh mắt biếc Áp-sa-ra đôi bàn tay gọi trăng . Áp-sa-ra huyền thoại vĩnh hằng Hồn thánh thiện trắng màu hoa sáng tạo Nguồn rung cảm hiện thân em kỳ ảo Cung đàn ngân âm hưởng thiên thần . Khát vọng tình dâng biển sữa thanh xuân Thấm vào đá đá mềm theo vũ khúc Áp-sa-ra sáng trưng miền Đâu Suất Hương trầm thơm hồng trái tim thiêng . Áp-sa-ra cổ tích uyên nguyên Trường ca về niềm đam mê nghệ thuật Với sức sống diệu kỳ nguyệt nhật Cây không-lan ôm thạch nhũ bóng ngời . Áp-sa-ra hóa thân cõi người Em tạc vào đêm ngọn nguồn hạnh phúc Em tạc lên ngày ánh dương trước ngực Em tạc giữa nhân gian sắc nước hương trời
Tựa bài thoạt nghe chẳng ăn nhập gì đến một chuyến đi, nhưng đó là một trải nghiệm thú vị trong lần thứ hai tôi đến Angkor. Tôi có một cô học trò cũ bây giờ đang dạy ở Đại học, cô ấy có hướng dẫn 2 sinh viên người Campuchia làm luận văn Cao học về văn hóa Khmer cổ gì đó, và thầy trò họ sẽ có một chuyến điền dã 3 ngày ở Angkor, trong khi chẳng có tour du lịch nào tổ chức ở lại Angkor đến 3 ngày, nên tôi hăm hở tháp tùng nhóm này. Lần này đi với người bản xứ nên tôi biết thêm ở Angkor vé tham quan 1 ngày là 20 USD, 3 ngày 40 USD, 6 ngày chỉ còn 60 USD, và giá vé này là với du khách nước ngoài, người Campuchia vào tham quan bất cứ đâu ở Angkor đều không phải mua vé, một điểm son cho ngành du lịch Campuchia.
Vì đi theo nhóm nghiên cứu nên thoạt đầu tôi cũng mang theo đầy đủ giấy bút, và nửa ngày đầu tiên tôi cũng ghi ghi chép, nhưng rồi tôi nhận ra rằng thầy trò kia thì họ cần đo đạc chiều cao, chiều ngang của từng linga vì ở mỗi ngôi đền các linga đều khác nhau, hoặc họ cần tìm hiểu mỗi dáng vẽ của các cô vũ nữ Apsara nói lên điều gì vì có 1.700 cô vũ nữ Apsara ở Ang kor thì có 1.700 vẻ mặt, tư thế và động thái không hề trùng lặp, và v.v… trong khi tôi là dân ngoại đạo với bộ môn Dân tộc học mà sao tôi cũng lại phải vất vả ghi chép thế nhỉ, tôi đi chơi cơ mà. Vậy là dẹp hết giấy bút, tôi chỉ dùng trực quan sinh động là nhìn và… sờ. Có lẽ nhiều du khách cũng như tôi nên có vài phù điêu ngực các cô vũ nữ Apsara… nhẵn bóng.
Lần này ngoài những ngôi đền lớn nơi khách du lịch thường xuyên đến, tôi còn được lang thang đến các ngôi đền nhỏ, vắng vẽ, u tịch, ít người lui tới, đến những nơi này tôi nhớ đến Mỹ Sơn của Việt Nam, cũng hoang phế, đổ nát nhưng toát lên vẻ kiêu hãnh của một loại hình kiến trúc mà ngàn năm sau vẫn đánh thức sự tò mò muốn tìm hiểu của loài người.
Trong chuyến đi này tôi thú vị khi được so sánh đền Ta Keo với đền Bateay Serie. Đền Ta Keo với 3 ngọn tháp trên cao được xây dựng đầu thế kỷ XI, nhưng công trình dang dỡ nửa chừng sau cái chết của vua Jayavaman V, ngôi đền đã xây cất xong nhưng không có ai chạm khắc, các tảng đá vẫn nguyên vẻ thô mộc, vì vậy ngôi đền này có một vẻ dáng đặc biệt vững chãi và đẹp đơn giản như một người đàn ông.
Trong khi Bateay Serie là một ngôi đền bằng đá thạch anh đỏ và đá ong đỏm đáng với những nét chạm khắc hoa văn trên đá thật tinh xảo và lộng lẫy, mang dáng dấp uyển chuyển mềm mại của người phụ nữ, ngôi đền này cũng được xây vào năm 967, đã ngàn năm qua nhưng các bức phù điêu vẫn còn sắc nét như vừa mới hoàn thành.
Một ngôi đền khác dù là phế tích vì đổ nát khá nhiều nhưng lại nổi tiếng do đã đưa Campuchia đến gần với thế giới hơn qua bộ phim Bí mật ngôi mộ cổ của đạo diễn Tomb Raider: đền Ta Prohm. Ngôi đền mà sự cộng sinh ở đây đã giúp tồn tại với sức mạnh của thời gian, những cây cổ thụ với bộ rễ khổng lồ ngoằn ngoèo bò dọc theo các bức tường đá, xuyên thủng các mái vòm, trùm lên các ngọn tháp, nhưng cũng chính nhờ những bộ rễ này mà các bức tường đá vẫn còn đứng vững. Ngôi đền này có rất nhiều hành lang, trong đó có một hành lang được thiết kế như thế nào đó mà đi bên trong, nếu ta đập nhẹ tay lên ngực sẽ nghe được tiếng vọng vang về qua những bức tường.
Nhưng điều hài lòng nhất trong chuyến đi này là tôi đã nhìn được mặt trời lặn ở ngay đường chân trời khi leo lên đồi Bakheng. Lần trước tôi cũng đã leo được lên đây, kinh đô đầu tiên của đế chế Khmer chỉ còn lại vài bức tường đổ nát, nhưng buổi xế chiều khi mọi người đổ về đây nhìn mặt trời lặn, nơi này như tháp Babel, có đủ mọi màu da, mọi thứ tiếng.
Lần đầu tôi lên và ngồi đợi như bao người khác, sau đó… trời chuyển mưa, mây đen kéo tới, chẳng còn mặt trời, lại còn phải chạy xuống núi thật nhanh để tránh cơn mưa. Lần này tôi đi vào cuối năm nên không lo trời mưa, và sau khi mất 30 phút lên được đến tháp Babel tôi mới nhận ra là đã… bỏ lại máy ảnh trong túi xách để trên xe. Nhưng dù sao thì cuối cùng tôi vẫn được nhìn thấy mặt trời lặn ở đường chân trời và trước những giây phút mặt trời biến mất, tôi có được một tấm hình mặt trời trên lòng bàn tay. Cô học trò cũ chụp cho tôi và rửa ra một tấm hình gởi tặng, cô có gởi cho tôi một file những tấm hình trên núi Bakheng nhưng tôi lại làm thất lạc mất, nên đành chụp lại từ tấm hình đã có.
Và điều trải nghiệm thú vị đã xảy ra với tôi ở Angkor Wat. Ngôi đền mà dù đến Angkor bao nhiêu lần thì cũng vẫn phải trở lại để tham quan vì nó rộng lớn quá, chẳng thể nào đi hết được trong một lần. Đây là ngôi đền duy nhất ở Angkor có lối vào chính ở hướng Tây, hướng mặt trời lặn, vì vậy bình minh trên Angkor Wat là một cảnh rất đẹp với 5 ngọn tháp đen hùng vĩ trong ánh rạng của mặt trời. Angkor Wat hay được gọi là “Thành phố đền” là công trình kiến trúc tiêu biểu nhất của Angkor và là biểu tượng của nước Campuchia.
Chúng tôi có hẳn 1 ngày ở Angkor Wat, thật ra 1 ngày ở ngôi đền có chiều ngang 215m, chiều sâu 187m và chiều cao 65m, với khu đền chính gồm 398 gian phòng, mà tầng 1 với các dãy hành lang dọc ngang dài hun hút cả 4 phía với các phù điêu trên tường thuật lại những cuộc chiến tranh và những sự tích trong sử thi Ấn Độ-Ramanaya… thì với nhóm nghiên cứu mà tôi đi theo họ đã phải làm việc rất khẩn trương. Còn tôi thì lại có 1 ngày nhẩn nha ở đây, tôi đã có thời gian xem hết các bích họa trên các hành lang, những hình khắc trên đá sinh động đến mức tôi có cảm giác như có thể nghe tiếng hò reo xung trận của hàng vạn quân lính của vua Suryavaman II ở hành lang phía Nam, kế là bức phù điêu với 37 cảnh trên thiên đàng và 32 hình phạt dưới địa ngục, tôi đã tới cái tuổi chẳng còn thời gian sống tốt hơn để được lên thiên đàng nên cả thiên đàng lẫn địa ngục tôi không quan tâm lắm. Hành lang phía Đông, phía Bắc và phía Tây là kể lại những sự tích trong sử thi Ấn Độ - Ramayana, mà bức phù điêu của phía Tây là tráng lệ và hoàn hảo nhất. Thật tình tôi không hiểu hết về nội dung các bức phù điêu, một phần cũng vì hành lang rất tối, chụp hình cũng chẳng thấy rõ được, nhưng vì cả buổi sáng tôi nhẩn nha soi đèn pin để nhìn các bích họa này, nên hình như tôi cũng đắm chìm vào cái không khí huyền hoặc của ngôi đền. Buổi chiều khi leo những bậc đá cổ dựng đứng để lên tầng tháp thờ Phật và thần linh, theo người Campuchia thì đây là nơi thần linh tiếp xúc với con người.
Các hành lang cổ xưa này tôi đã đi qua lần trước rồi và bỗng dưng tôi có ý nghĩ, nếu tôi ngồi yên ở một góc hành lang, nhắm mắt lại- và thật sự mong muốn- không biết tôi có thể hình dung ra được cảnh tượng ở đây hơn 800 năm trước không? Thật ra tôi cũng thấm mệt, đó là một cớ để tôi có thể ngồi yên một mình.
Tôi ngồi một lúc, hình như tôi buồn ngủ, có lẽ vậy. Và tôi bỗng nghe rầm rập bước chân đi phía dưới sân đền, tôi bước ra nhìn xuống và chao ôi, tôi thấy một cảnh giống hệt như tôi đã từng nhìn thấy ở một trong những bích họa trên tường.
Và tôi bỗng sợ, thật sự là tôi sợ, tôi nghĩ là tôi đã bước qua cánh cổng thời gian của ngôi đền này và tôi đã trở ngược về 850 năm trước, trong tiềm thức tôi vẫn còn nghĩ được có lẽ tôi nằm mơ, nhưng tôi vẫn hoảng sợ, tôi sợ tôi sẽ không còn trở về được… với thế kỷ XXI nữa. Nên tôi hết sức cố gắng… để mở mắt ra, tôi thấy mình vẫn ngồi trên hành lang vắng lặng, vừa rồi tôi đã ngủ và đã mơ. Nhưng nói thật là tôi có mừng, mừng vì tôi vẫn còn thấy thấp thoáng đàng xa nhóm thầy trò Dân tộc học, nghĩa là tôi vẫn đang ở thế kỷ này, tôi đang đi du lịch và rồi tôi sẽ trở về nhà.
Ngồi trên xe về khách sạn, tôi ngẫm nghĩ thấy mình cũng hơi… hèn, tôi cũng đã từng nghêu ngao “Cứ nghĩ trần gian là cõi thật. Thế cho nên tất bật đến bây giờ”. Tôi khi tuyệt vọng cũng đã từng nghĩ: Cõi tạm này có phải rời bỏ cũng chẳng lưu luyến gì. Vậy mà hôm đó tôi đã mừng biết bao nhiêu khi thấy tôi được trở lại với cuộc đời này. Từ đây về sau tôi đã có một trải nghiệm để nhận ra: Thật ra cuộc đời này là cõi thật!